Người mây trắng

Tính của Má trầm lặng. Má không nói gì về đời sống và xã hội bên ngoài, trừ những việc cần sai bảo kẻ ăn người làm. Trong nhà thời đó có vài ba mươi người phụ giúp việc. Má là con một của ông bà ngoại gốc Hoa Lục.
                                        
NGƯỜI MÂY TRẮNG 
Tiến trình chứng nghiệm trong thực tại 
của  Người Mây Trắng
Tính của Má trầm lặng. Má không nói gì về đời sống và xã hội bên ngoài, trừ những việc cần sai bảo kẻ ăn người làm. Trong nhà thời đó có vài ba mươi người phụ giúp việc. Má là con một của ông bà ngoại gốc Hoa Lục.
 Tôi không thật sự biết mình sanh ở đâu, vào lúc nào! Nhưng khi vừa ý thức được thực tế cái hiện tiền thì thấy mình ở trong một ngôi nhà rộng lớn. Nhà chính hình chữ L nằm, diện tích khoảng 300m, hồi đó tôi không biết nhà xây bằng vật liệu gì, nhưng phía đằng bếp thì ló ra những tảng đá ong to tướng, mỗi viên ước chừng cả trăm ký, phía trước là hàng cột quét vôi trắng, bốn cạnh vuông có chân đế vững, nhà ngoài thông qua nhà trong bằng cửa vòm hình cung bán nguyệt. Phần thông thì ở dưới. Lầu trên thì nhà ngoài và nhà trong đều có cầu thang riêng. Lầu không đúc mà lót bằng ván cây đước, liêm và kiền kiền. Cả  những bộ ván gỏ bóng như gương rộng đến bốn người nằm mà chỉ có hai tấm thôi.
Ngôi nhà thế đất cao hơn mặt sông chừng ba bốn mươi mét. Từ ngỏ nhà xuống con đường dốc đầy đá sỏi ngang qua chợ ra sông. Dòng sông bên bồi bên lở, chỗ cạn chỗ sâu. Lòng sông khúc thì rong rêu xanh thẳm, khúc thì sỏi đá trơn tuột, khúc lại cát nổi thành cồn, sâu cạn bất thường. Mùa nắng mùa mưa nước chảy rút, tràn không biết  đâu mà lường tính.
Lũ trẻ chúng tôi có đến vài ba mươi đứa từ 11,12  đến 15,16 tuổi, kể cả con gái cứ ra đến bờ sông là tuộc cả áo quần bỏ từng đống trên bờ, rồi nhảy ùm xuống nước. Chúng tôi tát nước vào nhau và lặn bắt cá tôm! Không phải chỉ tụi choai choai mới cởi quần áo tắm đâu nhé, cả những người đàn ông lớn cũng tắm như thế. Có khi họ giặt đồ dưới nước đem lên bờ cát phơi, tắm chờ quần áo khô rồi lên bờ mặc lại.  Những điều đó ở xứ quê không có gì lạ!
Điều đáng ghi nhớ là cái ngày mà tôi tự mình biết bơi lội . . . Đứa bé nào cũng muốn biết bơi nhưng thường thì nhút nhát, rất sợ khi ra nước sâu tới ngực. Có đứa được người lớn tập cho. Nhiều đứa cả tháng đập nước mà không bơi được.
Thằng bé con này đứng bên bờ sông, bờ chỗ này không có cát, là bờ đất, trước mặt nó là vùng nước xanh đen đáng sợ!
Xa hơn từ 15 đến 20 mét là màu nước vàng trắng vì cát gồ lên cao. Mặt nước không sâu có thể đặt chân được. Nó đứng lặng yên một hồi, tự cởi áo, đạp quần xuống chân. Mắt nó vẫn nhìn dòng nước đăm đăm. Bỗng một tiếng ùm không lớn, nó phóng về phía trước, đầu và mình nó trườn lên trên dòng nước, chân đạp mạnh, tay vươn dài. . . người nó nhiều lần như chìm xuống, giây phút nó mất mình không còn biết. Bỗng chốc nó thấy mình đứng lên trên mô bồi cát cạn! Thế là nó . . . đã. . . biết bơi! Nó tự động lội vào lội ra vài lần như thế – an toàn. Nó có kinh nghiệm là mình đã biết bơi lội rồi.
Sau này có người hỏi  tôi: “Anh biết lội từ bao giờ? Tôi nói : “Tôi biết lội hồi còn nhỏ lận!” Người kia lại hỏi: “Nhưng tôi muốn hỏi CÁI BIẾT LỘI của anh vào lúc nào?” Tôi lại nói: “Có lẽ lúc đứng bóng trưa khi tôi từ trên đồi hái sim trở về . . .  và ra bờ ruộng. Người kia nói: “Anh không hiểu gì hết! Nghĩa là lúc anh ra bờ sông là lúc anh” CHƯA BIẾT LỘI”.
     Tôi giật mình hiểu ý và nói : “Tôi nhớ rồi, là lúc mà tôi nhảy ùm xuống nước và đập tay đập chân dữ lắm. Tôi cố trườn tới và tôi biết lội! Anh ấy mỉm cười và im lặng không nói gì. Tôi hỏi: “Tôi nói vậy không đúng sao“?. Anh bạn gật đầu nói: “Tôi hỏi anh, anh biết lội vào lúc nào, có nghĩa là vào cái khoảnh khắc nào? CÁI XẢY RA GỌI LÀ BIẾT!  Tôi lại giật mình trong yên lặng. Tôi hiểu vấn đề thật rất phải nghiêm túc. Nó không còn thời gian để mà tính toán. Nó không phải là kinh nghiệm.
Sau đó không lâu, cậu bé bị ba bắt về quê nội để được gần trường học hơn. Cậu bé không mấy thích nơi nào ít cây cối. Không nhìn thấy núi và nhất là không có  những đồi sim dày đặc trái. Tình cảm với lũ trẻ như những cụm mây buổi sáng thanh thản cùng dòng sông miền núi réo rắc chảy qua từng vực thẳm và bờ cây xanh ngắt. Không ấn tượng mà là cái toàn diện sống lung linh của thời thơ trẻ đối với cậu bé không thể tách rời. 
Vì  thế ở làng Vạn Tượng, nơi quê nội gần tỉnh thành hơn, dòng sông Trà Khúc và con người sáng sủa hơn, lại được đi học gần trường nhưng không giữ lâu cậu bé ở nơi này được.
Rồi, vào một buổi sáng khi còn mờ đất, sau giấc ngủ dài có dự định, thời gian vùng dậy, cậu bé vội vàng mang chiếc xách vải vào vai, đội lên đầu chiếc ca-lô màu trắng, chân xỏ dép cao su, nhanh nhẹn ra khỏi nhà … Cậu bắt đầu “Chạy” từ khoảng sân vận động Vạn-Tượng hướng về tỉnh lỵ phải qua Bạn-La lên ngã tư, quẹo trái lên ga. Qua khỏi ga xe lửa trời đã sa những, cậu bé cởi cả áo quần cột lên cổ và lội qua sông Trà-khúc. Trà Khúc là con sông rộng mà không sâu, có bờ cát trắng rộng dài nhất miền Trung. Lòng sông có nơi rất cạn nước chỉ tới rún thôi.
Nghe tiếng rì rầm, theo âm thanh cậu nhìn thấy phía trên dòng sông có mấy bánh xe nước, to tướng cứ mãi quay tròn không biết tự bao giờ … Nhớ trước đây có nghe má nói: “ông ngoại bây trước ở bên Tàu có vô “PHẶC- HẶC” (Phật học)”. Bé hỏi: “Phặc-hặc là cái gì vậy má?”. Má nói:  “Phặc-hặc là chỗ mà người ta đốt nhang cho mấy tượng Phặc đó … ”. Bé lại hỏi: “Vô chỗ đó thì có cái gì vậy má?”. Má nói: “Nghe ông Thầy chùa ở Chùa ông Nhông nói, ai vô Phặc-hặc thì khỏi Lưng hồi (Luân hồi). Cậu bé lại hỏi: “Lưng hồi là con gì vậy má?”. Má nói: “Tao không biết, nghe nói Lưng hồi là cái bánh xe to nó quay hoài hoài . . !”
Khi đứng nghỉ lại trên cồn cát cạn giữa giòng sông. Cậu bé nhớ lại về câu chuyên Phặc–hặc và thấy những bánh xe to tướng kia. Cậu rất vui mừng là: Mình thấy được “Cái lưng hồi” rồi! Mấy đứa kia không biết Phặc-hặc cứ kêu là cái bánh xe. Tụi nó nhà quê thật, đâu có được đi lại để  biết mấy cái Lưng hồi này đâu! . . .Cậu vừa  qua sông, vừa nói trong đầu: mình đâu cần vô Phặc-hặc, mình cũng thấy cái Lưng hồi, và mình cũng qua khỏi cái Lưng hồi rồi !
Cậu bé lên bờ mặc lại áo quần, đi tới một đoạn đường nữa và bắt đầu xuyên qua rừng Thình Thình để vào Bình Sơn. Từ Vạn Tượng đến Thạch-An đường dài trên 30 cây số. Hồi đó không có xe hơi. Người ta phải đi bộ hoặc đi xe đạp ra Châu - ổ  rồi lên ngã ba Trà Bồng. Đi đường tắt thì có gần hơn một chút, mà phải băng qua rừng Thình-Thình, đường dài không phố chợ, không nhà cửa gần 20 cây số. Rừng không có nhiều cây lớn, những đồi thấp vùng đất trắng và cát mọc rất nhiều sim, chà-là, có cả chùm chày, giủ-giẻ. Cậu bé vừa đi vừa hái lương thực với những trái cây rừng đó. Miệng vừa nhai vừa hát nghêu ngao bài Đường Lên Sơn Cước. .. Đường lên núi rừng … sao hãi hùng … ôi gió lộng … muôn lá động,   cành  trong    bóng  thê  lương. Mây bay về  đâu … chim bay về đâu …?
Khi nắng đã xế, mặt trời xuống thấp chừng vài cạn sào, thì cậu bé đã ra khỏi rừng đồi rộng lớn lần vào xóm dưới … Trên đường đất tiến vào ngôi làng quen thuộc. Bỗng từ xa một người hối hả đi đến, ngồi bệt xuống đất giữa đường. Chân trái ông ấy đỏ cả máu, dường như máu còn đang chảy  … cậu bé không ngần ngại: xé mạnh vạt áo sơ mì trắng của mình đang mặc để quấn vết thương cho ông ta. ông vừa nhăn nhó vừa ngạc nhiên … Rồi cậu bé lại tiếp tục vào làng, lần đầu tiên cậu bé thấy mình đã làm được một việc gì  đó …? Nhìn vạt áo mất một mảnh lớn, cậu nghỉ về bảo chị hai vá lại, nhỡ cái chân ông kia không đi được thì khổ đấy!
Sau lần chạy trốn hoang dại như thế, cậu bé ở yên một thời gian dài nơi quê ngoại. Một hôm có một vị Thầy trong làng muốn thỉnh một tượng Bổn Sư. Miền Trung lúc đó không có nơi nào đắp tượng Bổn Sư cả. Muốn thỉnh Phật phải ra tận Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng mới có. Tượng bằng đá non nước thì vừa bền vừa đẹp. Nhưng làm sao khiêng được ông tượng bằng đá đi bộ cả trăm mấy chục cây số ? ông anh và ông cậu nhà tôi thì có nhiều xe, nhưng xe cộ đều ở Đà Nẵng cả. Cuối cùng chỉ có tôi  và bà Cụ Thuận là có đủ điều kiện đi thỉnh Phật.
Hai bà cháu chúng tôi khăn gói lên đường đi Đà-Nẵng thỉnh Phật. Nhờ chiếc Trắc-xông màu đen nhánh mà cậu tôi tự tay lái đưa hai bà cháu lên Ngũ Hành Sơn.
Tượng Phật bằng một người ngồi nhưng nặng lắm. Cậu phải ở trước để  lái. Bà cụ không khoẻ mấy, chỉ có cậu bé vóc nhỏ nhẹ hơn cốt tượng nhiều. Cậu luồn một tay qua cổ Phật cố ghì giữ cho khỏi lắc lư. Đường rất xấu chiếc Trắc-xông phải chạy gần như cứng đờ không cảm giác.
Chừng ấy tuổi mà làm được việc thiện của người lớn, nên tôi rất khoái, tự đắc vô cùng. Vì tự cho mình có công đi thỉnh Phật, nên tôi thường xuống chùa để coi tác phẩm công lao của mình. Trong thôn có ông cụ tên Võ Q. Nho, là nhà Hán học, mày rậm trán cao, hình tựa như ông Khổng. Có người gọi chơi: “Là Khổng Tử đấy”. Ông già nói với tôi: “Mày biết gì mà cũng đi Chùa?”. Tôi nói : “Ông không biết mà tôi biết”. Ông cụ bảo: “Mày có thấy Phật không?” (ý nói có thấy Phật thật không?). Tôi nói: “Ông không thấy ông mới hỏi, còn tôi thì thấy rồi”. Ông cụ lại bảo:  “Mầy láo, chỉ tao coi?”. Tôi nói: “Ông theo tôi đi, tôi chỉ cho”. Ông nói: “Mầy nói láo”. Tôi nói : “Ông đi với  tôi, chừng nào ông không thấy thì hãy nói. Còn ông không đi  được thì không được nói tôi nói láo!”. Ông già yên lặng giây lát rồi nói: “Mầy còn nhỏ mà mê tín lắm, sau có nước đi chùi đít Phật thôi!”. Tôi nói: “Đít Phật thơm lắm, còn đít của ông và nhà ông thối lắm. Ông cứ ở nhà mà chùi đít cho con cháu ông!”.  Tôi nói chưa hết câu và … bỏ chạy.
  
 

 
Bản quyền thuộc về Trang Thơ Phù Vân Trang Tử
Email: phuvantrangtu@gmail.com
Website: http://phuvantrangtu.com
Nghiên cấm sao chép khi chưa được sự đồng ý của tác giả.
Thứ bảy - 24/06/2017 09:46   Đã xem: 36

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Facebook PhuVanTrangTu
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây