Trần an ơi ! xuân về ngươi có biết

Rồi một hôm, tôi đang ngồi xem bộ Thành Thật Luận của ngài Halebacma, lúc đó mặt trời đã “nghiêng về phía bạn”, ánh nắng chiếu xuyên qua cánh cửa giữa, làm ấm nóng cả lưng tôi. Tôi đứng lên quay lại, định khép cánh cửa chói nắng,
Rồi một hôm, tôi đang ngồi xem bộ Thành Thật Luận của ngài Halebacma, lúc đó mặt trời đã “nghiêng về phía bạn”, ánh nắng chiếu xuyên qua cánh cửa giữa, làm ấm nóng cả lưng tôi. Tôi đứng lên quay lại, định khép cánh cửa chói nắng, bỗng thấy một cô tiểu còn để chóp dài vắt qua tai, mắt mở thao láo, nhìn chằm chặp vào mặt tôi. Cô chừng 14, 15 tuổi mặc đồ toàn màu nâu, bên ngoài chiếc áo năm thân dài quá gối. Trên vai và vạt áo có nhiều miếng vá, những miếng vá sắp xếp thật ngay ngắn cùng đường kim chỉ, may thật khéo tay. Tiểu chóp không giống bất cứ một cô diệu nào. Gương mắt sáng tròn, đôi mắt trong veo, tròng đen trắng phân minh, mũi thẳng trên đôi môi hồng dày bậm chặc, thoáng nhìn cũng biết cô bé này rất bạo dạn, tim nằm trên mắt !
        Tôi cũng lặng lẽ đứng yên không nói gì, chừng như cô tiểu chóp không giấu mình hơn được, bước đến thật gần nhìn thẳng vào tôi mà hỏi:
        - “Thầy có biết con không?”
         _ “Biết !”
         _ “Con bao nhiêu tuổi?”
         _ “Con còn nhỏ lắm”.
         _ “Là bao nhiêu?”
         _ “Ba trăm tuổi trở lại thôi”.
         _ “Thầy bao nhiêu?”
         _ “ Một ngàn tuổi !”
     Cô tiểu chóp rất hoan hỷ, chừng như muốn hỏi thêm vài câu:
         _ “Thấy biết con tu ở đâu không?”
         _ “Tây Tạng!”
      Cô bé thật bằng lòng mỉm cười rạng rỡ nói:
         _ “Đúng là một vị “Thầy”.
      Khi vào trong cốc, cô tiểu chóp mới nói:
         _ “Con là Nguyên Tu, cùng thầy, với thầy Nguyên Lợi, Nguyên Tâm, mấy huynh đệ của con ở nên con lại thăm thầy”.
       Nguyên Tu lui tới cốc tôi khá thường xuyên. Một trong những nguyên nhân giữ chân cô tiểu chóp cực thông minh này là thơ và sách. Mỗi ngày cô bé có thể đọc hết vài cuốn sách có vài trăm trang. Một hôm tôi đưa cuốn “Trở lại thiên đường” của Elia Kazan đến hỏi:
      _ “Con đọc tác phẩm này bao lâu mới hết?”
      Cô nói: “Chừng ba, bốn tiếng”.
       Cô đọc từ lúc 8 giờ đến 11 giờ thì hết. Tôi có thử lại thì trí nhớ của cô còn khá hơn tôi. Cô chẳng những đọc sách nhanh bằng hai, ba lần tôi mà cô còn biết tìm những sách có giá trị lớn để đọc. Chỉ một đêm cô đọc hết một bộ “ Tiếu ngạo giang hồ” ( 12 cuốn). Các loại sách để đọc như tiểu thuyết, truyện tàu thì cô đọc gần như hết sạch lúc còn nhỏ. Một hôm, tôi đọc cho cô nghe câu thơ dưới đây:
                   “Hỡi linh khí, hỡi làn hơi bất tận
            Đây hình hài trọn hóa bụi tro bay
            Xin hình năng nhớ lại kiếp muôn đời
            Xin đã thế thì nay vẫn thế
            Hỡi hỏa thần đưa nhau sang tục thế
            Hỡi linh thần quán triệt tướng vô biên
            Gỡ cho nhau lầm lạc đã xa miền
            Xin tha thiết trọn dâng lời phục thuận”
   Cô bảo: “Thầy đọc thơ gì mà hay quá vậy?”
       Tôi nói: “Thi sĩ này cũng ở chòi lá, sống trước thầy vài ngàn năm nên thơ hay”
        Cô bé bảo: “Thơ rất gần với thuyết, thầy không đọc tiểu thuyết nên thơ già quá”.
        Tôi nói: “Thôi để thầy đọc cho con nghe một câu thơ trong tiểu thuyết cận đại”.
        Tôi đọc: 
         “ Huyền ảo nào hướng ta về thượng đế
           Thắng khổ lụy trần gian
           Bất hạnh thay kẻ nào tin có thể
     Dựng tình mình trên tình của thế nhân ”
          Cô bé nói: “Con biết bài thơ này rồi”.
          Tôi hỏi: “Của ai vậy?”
          Cô nói: “Trên đầu của Chúa Điên mà con đã gặp”.
           Tôi hỏi: “Con có thuộc nhiều thơ không?”
           Cô bé nói:
        “ Mùa xuân có hoa đào
           Mùa  hè có sơn ca
           Mùa thu có trăng và múa
           Đông có tuyết sáng lạnh”
Tôi nói: “Thơ thì trẻ thật mà người làm thơ thì phải chống đến bảy, tám cây gậy rồi”.
           Cô chóp vỗ tay lốp bốp nói: “Thôi để con đi đánh điện thép hỏi thăm mấy cụ còn làm thơ không?” và cô đi ngủ. Nguyên Tu khi ăn lúc ngủ đều mặc áo giới năm thân. Cô bé chỉ có hai bộ, một bộ mặc, một bộ thay. Mỗi đêm cô bé thường đi một mình lặng lẽ trong bóng tối. Tôi hỏi:
          _ “Nguyên Tu đi đâu vậy?”
           Cô nói: “Ma quỷ thường ở trong tối tăm, mình cũng đi trong bóng tối để chia xẻ”
          Tôi hỏi: “Bộ Nguyên Tu thương ma quỷ lắm hả?”
        _ “Con thương lắm! Ma quỷ không dối trá”
       Tôi nói: “Ma quỷ là dối trá, quỷ quyệt, sao lại không?
       Cô tiểu chóp nhìn tôi giây lát rồi nói:
       _ “Thầy siêu quá mà sao nói lạ vậy. Đã dối trá thì còn gì dối trá! Như vậy ma quỷ mới thật thà đó!”

Thưa các bạn thân quý, tôi có vài lời “ hậu ý” chuyện thuật lại về cô Tiểu Chóp và một số nhân vật có liên hệ với Phù Vân Cốc hồi đó.
            Cuộc sống của mỗi chúng ta giống như một dòng sông đang trôi chảy. Bạn có thể thấy con sông ở đầu nguồn thật ồ ạt mạnh mẽ như thế nào. Khi con sông qua những khúc quanh nó uốn theo từng độ quanh của bờ, đến những đoạn có lòng sông bằng phẳng, mặt nước sông rất thanh bình… Khi đến ghềnh thác dòng nước sông trở nên hung bạo, nguy hiểm khôn lường cho đến khi dòng sông vào cửa Hải… Nó nhập vào cùng biển, không ai có thể còn thấy được tướng trạng và… cõi lòng của nó nữa.
            Con người cũng thế! Những nhân vật mà tôi đã viết ở trên, biết đâu giờ này đã khác xa, đã không phải là như vậy nữa…Kinh nghiệm của tôi bằng lòng cho tôi nói như vậy! Và nói theo “tâm thức” của ta thì cái xê dịch, cái bất thường, cái lầm lẫn, cái tan mau của nó cực kỳ nguy biến hơn nhiều không thể cân lường… Chứng nghiệm trong lòng đã cho tôi những tiếng lời như vậy. Biết đâu khi tôi Đè những tư tưởng này lên giấy thì cô Tiểu Chóp, cô Nguyên Phương đã bay xa rồi, đã lên Thiên đường (của Trần thế), đã xuống Địa ngục (của Ta – ra), đã run sợ trước sự thịnh nộ của chồng, đã mềm lòng khi đứa con òa khóc, đã …ôi! Ôi đã …sao sự trìu mến thương yêu đâu vắng cả? Trơ vơ buồn… Không biết nói kêu ai!? Ôi xin lỗi, xin lỗi… Tôi trật rồi.
Tâm tùy vạn Cảnh đổi thay
Chuyển nơi tăm tối ra ngay sáng ngời
Tùy dòng nhận tánh chơi vơi
Như như tự tại không nơi vui buồn
                    Pháp Kệ
    Lui tới Phù Vân Cốc thì không nhiều, dấu ấn và liên hệ lại càng ít hơn. Những hình ảnh đó là cô “Tiểu - Chóp”, Nguyên Tâm, Thiện-Tường, Minh huệ Minh  Cảnh ... Giác Liêm, Giác Thi, S Hiệp, Hoà Thượng Giãi An.... Phúc Duyên Phúc-Hiện, Nguyên-Phương, Bùi Giáng. Còn có thể thêm được vài trăm trong số  ít ỏi những người tới lui nơi đây, nhưng những người đó không dừng lại nên bóng họ không in đậm dài nơi Phù vân Cốc.
    Ban đầu Cốc này chỉ chừng bằng một cái chòi không quá vài mét vuông, thời gian lập dựng là một ngày bằng sức lao động của hai người Dân tộc (tính cả công lấy vật liệu gồm có vài  ôm cây và tranh).
    Tôi không dự định làm Cốc, dù trước đó một tuần hay một ngày.
    Tôi không biết làm Cốc bằng gì, công thợ ở đâu dù trước đó một hai tiếng đồng hồ.
    Tôi không có tiền và không nghĩ tới tiền cả trong khi khai tụng lễ cầu nguyện để làm Cốc.
Như vậy cái sơ khởi của Phù Vân Cốc là một cái “ Không” không phải là một con số không, không phải là một khoảng không, càng không phải là một cái không biết gì, không là gì cả.
    Cái không mà tôi không dùng được ngôn ngữ để diễn tả nó ra đây cho các bạn biết ... cái không này ắc phải linh lung kỳ diệu lắm. Vì nó đã hình thành ra cho tôi Phù Vân Cốc. Nó cho tôi một không gian rộng rãi đủ để dung nhiếp kẻ đến người đi.
    Nó giãn nở quay quanh và trường tới như một vận tốc ảo tưởng thời gian.
    Cái chòi Phù Vân này như một đám sương tụ trên rừng đồi núi Đại Ninh. Nó đứng đó trên tảng đá to dưới tàng cây Cẩm Lai, nó đơn độc nhưng không ngừng duyên khởi mài mòn theo quả nhân cùng cuộc sống.
    Phù Vân Cốc cùng người mây trắng như “ Vụ-lộ Trung Hàng” và xuyên suốt mười lăm năm “ Cái tôi” đã chứng kiến biết bao những lá vàng đã lìa cành rơi rụng.
    Tôi đã chờ-đợi như con chim ẩn mình trong tàng cây đông lạnh. Tôi đã chờ đợi như làn gió hắc hiu và bi tráng của một ngày xa xưa bên bờ Sông Dịch Thủy.
    Tuy vậy mà gió không phải đợi chờ người tráng sĩ Kinh Kha ảo tượng.
    Vì gió vẫn vô-tâm nên đã trở về cùng Kha-Luân đắc thắng. Người đã thấy tận bờ kia một mỹ miều tân thế giới.
    Cùng một thể, tôi đã trở về. Tôi ngồi đây, trên đỉnh Núi Động Phong La đêm nầy và vẽ lên giữa bầu trời thượng đỉnh một áng mây, một áng mây bềnh bồng rọi bóng trong dòng nước đang trôi dưới đáy Cầu Đại Ninh bên những cây thông già trên đường về Đà Lạt.
    Rồi một hôm, một Thiền giã, một nhà sư đó là Sư Giác Thi và Sư Giác Hiệp, nói với tôi rằng “Có một cô học sinh đang học năm Đệ II, cô ấy muốn tìm một vị thầy để xuất gia. Nếu được thầy giúp đỡ thì cô ấy sẽ may mắn lắm”.
    Tôi nói cứ để coi !
    Tôi không khước từ và cũng không lời chấp nhận
    Hơn một tháng sau thì tôi nhận được lá thư đầu của cô ấy gửi đến vấn an tôi và hỏi nhiều giáo lý. Tôi trả lời thơ như cách dạy Hàm-Thụ.
    Diệu Hạnh là tên pháp của cô ấy. Cô không có ba mẹ, thiếu vắng tình thương, đang học năm cuối để thi Tú-tài nhưng cô cũng bỏ nhiều thì giờ để học hỏi Phật pháp và đọc sách. Trong thư gởi đến, nhiều lần cô muốn xin xuất gia, nhưng tôi biết là cô rất muốn đạt được tri thức chân xác hướng thượng để tiến hóa và thoát ly vòng lẩn quẩn của cuộc đời.
    Thông thường qua cái sống thực. Cảm giác ta không bao giờ ổn định. Khởi đầu từ những cái “xúc” mà tiếp nhận tín hiệu không sao được đáp ứng như lòng Dục. Ta mong muốn trong cái không thỏa đáng, ta muốn tìm con đường thoái thoát. Nhận định sâu kín là một “Hy-vọng triền miên”...
    Trong sự tha thiết của lòng Dục và ức chế của cuộc sống, dòng chảy chà mòn những biểu hình mong đợi trở thành láng trơn và nhu nhuyễn tâm trạng là khởi nguyên như thế nên Diệu-Hạnh hồi ấy là cô thiếu nữ dịu dàng nói năng rất biện tài trong dạng người trẻ tuổi.
    Những lá thứ Hàm Thụ như thế, suốt gần cả năm cho đến còn chỉ vài tuần là đến ngày thi tú tài. Tôi viết cho cô một lá thư trong thư tôi nói : Bây giờ con có thể lên Đại-Ninh được rồi. Tôi bảo cô khi lên Sài Gòn đến Đại học Vạn-Hạnh hỏi nhờ thầy Tâm-Ngoạn chỉ đường đi Đại-Ninh không có Tâm Ngoạn thì vào đảnh lễ Hòa Thượng Minh-Châu xin ngài chỉ đường (vì sư cô Trí-Hải có thất ở Đại Ninh)
    Quả nhiên sau đó một tuần thầy trụ trì khuôn Hội Phú An dẫn vào Thất Tối, một cô học sinh tuổi chừng 20 dáng người mảnh mai yếu đuối. Gương mặt trong sáng có phần trầm tịnh. Đó là Diệu-Hạnh, dáng đầy nữ tính chỉ đôi mắt là sáng trong hiểu biết, nhưng ẩn sau nhiều tâm sự. Phù Vân Cốc bây giờ đã dựng thêm vài Thất nhỏ. Trước đó không lâu những bước chân viễn xứ của nhà họ Nguyên nhiều người đã dừng lại nơi đây đó là Nguyên Lợi (Thiện-Tường) Nguyên Tâm, Nguyên Tu bây giờ Diệu Hạnh được đổi thành Nguyên Phương.
    Sau mấy ngày an trú tôi mới biết Nguyên Phương bệnh thực quản 6 năm rồi, đã chữa qua nhiều thầy, nhiều thuốc mà vẫn không thuyên giảm chút nào, lại còn có chứng đau thần kinh niên nữa. Tôi bảo Nguyên Phương phải học thuộc Kinh Hồng Danh Sám Hối và tụng trì liên tục 108 vị Phật trong kinh nầy, để giải nghiệp tiền thiên quá khứ. Bệnh đã hết, thuốc chữa thì phải ăn gạo lức muối mè tuyệt đối. Đấy là Vương-đạo trị liệu cho thân hiện tại. Phải một mình nơi yên tĩnh đọc kinh giáo và những cuốn sách cần thiết.
    Từ đó Nguyên Phương tịnh trú ở trong một An Thất cách Cốc Phù Vân chừng 100m và thực hành những điều tôi hướng dẫn.
    Đau thực quản là căn bệnh dai dẳng khó chữa. Ở Phù Vân Cốc mọi người gần như phải tự chịu trách nhiệm và tự quyết trong hướng đi của mình. Lẽ sống, tình cảm và đạo lý đều tự hòa nhập trong một giòng chảy sinh mệnh và sinh tồn trong hiện tại.
    Ăn gạo lức muối mè, tĩnh dưỡng và thu tập tiết giảm được rất nhiều hao phí sinh lực người bệnh, nhưng còn một cái gì đó không miễn trừ  nhanh chóng được trong người bệnh như trường hợp Nguyên Phương. Hiện giờ, tôi cho đó là một lực lượng xô-bồ dồn dập của một cái gì trước đây tuôn tràn về chụp tới. Nghiệp có thể là một sự xói mòn, một thâm thủng trong hiện tại gay một thói quen mà tự thân nó không là nghịch hay thuận.
    Tôi niệm dự bị mấy hôm về chú Chuẩn Đề, để chuẩn bị cho Pháp-Kính-Đàn và Sám pháp.
    Công năng Đàn Pháp sẽ có được sự giải trừ túc nghiệp cho đương sự thoát được mọi khổ ách hiện thời
    Trong cảnh giới yên tĩnh giữa núi rừng, trên một gác nhỏ được thiết lập bàn Phật trang nghiêm khoảng 9 giờ tối đêm trăng tròn (rằm) trên một gác thất thanh tịnh, tôi nhập pháp khai Đàn Kính. Thân ngồi Đoan tọa, tay kiết ấn, miệng tụng thần chú “Chuẩn Đề” cho đến gần nữa đêm, tôi thấy người đã mệt, đứng dậy lễ Phật và đi xuống phía dưới nằm nghỉ và nhiếp tâm. Vừa nhiếp đi bỗng thấy một gương mặt rực rỡ như lửa, uy nghiêm, đẹp đẽ và linh động vô cùng. Gương mặt nhìn thẳng vào tôi “có phần như giận, có phần như thương”. Ai đã thấy gương mặt rựa rỡ nầy một lần thì sẽ không bao giờ quên được. Tôi biết đó là “Sứ giả Đức Bổn Tôn” mà trong kinh Thuẩn Đề Đà La Ni có nói.
    Tôi mở mắt tỉnh táo, tâm lặng yên không một dấu vết. Trong ám thị tự nội tôi biết mình còn nhiều khổ nạn! Thế nhưng đức tin trong tôi lại càng sâu sắc hơn.
    Vì công phu tịnh mật của tôi đã có phần hiệu ứng. Người không hết lòng hạ thủ, thọ trì công phu có thể bị lờn lọt khi đọc những bản văn kinh tạng của Phật. Nhưng bất cứ người nào chí tâm thọ trì Phật hiệu (A-Di-Đà) hoặc tụng đọc Đà-la-Ni không gián đoạn, một thời gian nào đó sẽ trở thành bất thối. Với Thiền Đạo tự nhiên sáng suốt. Có thể quyết định được con đường giác ngộ.
    Thưa bạn thân mến, 
    Xin cho tôi được nói chút ít về từ “Giác-Ngộ” giả dụ rằng có một người nào đó đã rỗng suốt vào Trung tâm thực tại thì người đó không nghĩ mình là người giác ngộ. Danh từ Giác Ngộ là một vỏ-bọc từ một khái niệm rất mơ hồ. Những người bình thường cũng tin rằng có một người nào đó sở hữu một viên kim cương lớn, nhưng họ chưa từng thấy. Họ nghĩ :Nếu mình được giàu có lớn mình cũng có thể có được một viên như thế.
    Dự kiến qua sự nghe, nhìn góp phần cho tưởng hình, chính khi đó Đức tin nảy sanh và người ta nói: Tôi có, tôi được, tôi tin và tôi sẽ có, tôi sẽ đạt ... sẽ, đã hay đang đều không có thực. Chúng là sản phẩm thời gian, mà thời gian từ trá hình của tưởng.
    Tưởng là “không gian phi thực”. Chính ảo giác phi thực nầy tạo ra “Thời” và tạo ra cả “Không”.
    Người trực diện được thời thẩm thấu, được không đâm thủng cả hai trở thành rỗng suốt.
    Rỗng suốt, vô-vật là sở hữu được viên kim cương lớn nhất. Ý nghĩ không chứa được cái lớn nhất hay cái nhỏ nhất, vì thế nên giác ngộ không làm nên ý nghĩ và ý nghĩ cũng không bao giờ đối diện được với Giác ngộ.
    Cái mới lạ lần đầu kia khi nằm trong kinh nghiệm (nó không nằm trong thời và không) là một hiệu-tín không tên tuổi, không có từ để đạt cho nó. Nó không Danh-không Danh-từ.
    Những người chưa rỗng-không (chưa đạt) được thì không có trực-kiến thông thường thì họ phải nói theo chỗ “Nghĩ” của mình, hoặc nói theo chổ đã nghe từ trước. Tất cả phát ngôn này đều theo sự lặp lại, chắp nối trong ngôn ngữ làm tồn tại kiến thức như một truyền thống và kinh nghiệm ảo.
    Không tĩnh thức thì những đảo điên mộng mỵ không hết được. Không giác ngộ thì không xa lìa hữu vô được. Tuy vậy những triết lý tư duy, những tôn giáo, hình tượng, những lịch sử với sự kiện đời thường cũng cần có nó như đám cỏ hoang trên triền núi, tuy không sinh được hoa trái mà nó có thể giữ gìn cho mát đất khỏi chùi, đám cỏ góp phần xanh tươi núi rừng, là môi sinh chung cho tất cả. Kể cả những chuyện mới nghe như không cần thiết nhưng lại rất cần thiết, như ở đoạn đầu của tập sách nầy, các bạn đọc đến câu “Sau lần chạy trốn hoang dại như thế, cậu bé ở yên một thời gian dài nơi quê ngoại”… Rồi có một đoạn tiếp theo như thế này : “Rồi một năm sau có hai vị thầy về giảng đạo. Hai thầy đều ở chung một ngôi Chùa “cổ lỗ-sĩ” ở làng. Ngôi Chùa quê còn hơn cái xứ quê của làng tôi.
    Những ông bà già, người lớn tuổi ngồi bẹp dưới nền đất để nghe ông thầy lớn tuổi hơn nói Đạo. Buổi chiều thì ông thầy nhỏ hơn, tập họp lũ nhóc chúng tôi lại để kể chuyện sự tích Phật.
    Một bàn dài như bàn học trò ngăn đôi ghế dài hai bên. Chúng tôi ngồi chen sát vào nhau, không thứ tự gì lắm. Đối diện với thầy trẻ là những đứa con gái 14 - 15 tuổi, thầy trẻ nói chuyện rất hay, chúng tôi đều nghễnh tai nghe thầy nói ... Có một đứa ngồi bên thúc chỏ vào tôi, tôi liếc nhìn nó thấy mắt nó nhao nháo và nhìn thẳng vào đứa con gái tên L. L 15 tuổi đẹp và dễ mến, nó ngồi chính diện với thầy trẻ, mặt nó đỏ lên và nhúc nhích nhè nhẹ như bị rệp cắn ... Tôi ưỡng người ra sau và nhìn xuống gầm bàn thì thấy thầy trẻ chân gát lên đùi của L. Trời không nóng lắm mà sao quần của L lại kéo lên đến bắp vế ... dường như mấy thằng nhóc đều tò mò về cách ngồi lạ đó. 
    Thầy trẻ bỗng dừng lại và nói : Thôi mấy em nghĩ chơi đi. L ra sau bếp và một chốc thì thầy cũng đi ra sau. 
    Khi ra sân chơi mấy đứa bắt đầu bàn tán, chúng nó nói : Ngồi gát chân như vậy là không đúng, tôi nói, tao thấy ngồi như vậy khoẻ chân lắm ! Thằng Hải nói mấy đứa con gái cứ để cho mình gát chân thì ngồi không mỏi, thằng Thu nói : Cái đó là tầm bậy, người lớn mới được làm như vậy, một thằng nhóc còn bé nói: ngủ mà gát chân thì sướng lắm. (Nó ngủ giữa mẹ và chị nó), có một đứa con gái lớn tuổi (16 tuổi) đi ngang qua nói, tụi bây ngu như bò, một đứa con trai nói đùi của nó ghẻ không, không ai gát mày đâu, rồi chúng rượt đuổi nhau tá lả ...
    Thưa bạn, đoạn chuyện đó như thế nào? Người làm vi-tính đánh máy đến đoạn đó bỏ sót đi và tôi “phải chép” trở lại.
    Ngày còn nhỏ ở quê tôi những đêm trăng, những anh chàng choai choai có khi lớn hơn hoặc nhỏ hơn là chúng tôi thường ngồi trên bờ hồ kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện, trong đó có chuyện về trai, gái, chúng tôi còn là những tâm hồn quê, khờ hoang dã nghe những chuyện như vậy thật lạ tai, ngạc nhiên hiếu kỳ như dò tìm những bước chân của loài thú lạ. Quả nhiên nếu có sự hưng phấn nóng lên, khích động trong lòng chúng ta thì không phải đơn điệu là những câu chuyện đó đâu ! Những con bướm hay con sâu đã ẩn mình từ lâu trong tối kín, nay mùa xuân đã về những chiếc lá non tơ, những nụ hoa vừa nở, chúng đã cảm nghe rồi vùng lên ..... Hội ngộ !.
    Chúng ta là loài bướm đủ kích cỡ và sắc màu rựa rỡ như kích cỡ và sắc màu rực rỡ của ngàn vạn loài hoa.
    Hoa và bướm tuy hai mà một (căn với trần gốc một thành hai).
    Trở lại đoạn truyện trên tôi thật sự mang ơn “thầy-trẻ” cả “L” nữa !Vì sao? Nếu không có thầy trẻ về “giảng đạo”, thì tôi không có thắng duyên để xuất gia học đạo.
    Nếu không có thầy trẻ thi tôi không bị ám ảnh để nhìn lại những con bướm trong lòng tôi ! Và nếu không được hình ảnh xúc tác đậm đà đó thì luồng sống trong tôi không đủ một “chất men” để làm một nhà thám hiểm tận hồn xác mình và tôi đã “bùng-vỡ” tôi xuyên suốt qua cuộc Đại-cách mạng tự tiềm thức tôi và đưa đến tỉnh thức, Giác ngộ rằng : 
    “Dục tính vô minh tính
    Vô-minh tức Tự-tính
    Tự-tính không Thực-tính
    Không tính không ngữ thừa”.
    Rằng nếu có một “Cái tôi” được giải thoát, thì hiện-tính vẫn không hề thay đổi vì thế mà trong sâu của tôi tôi âm thầm mang ơn “thầy-trẻ”. Và tôi chép lại mẫu chuyện bị bỏ rơi nầy như tất cả mẫu chuyện tiền thân trong vô lượng kiếp sanh tử của chúng ta.
    Và tôi cũng tri ơn Ban biên tập vi tính bản thảo cho tôi luôn đứng về phần “Trắng” ( không muốn có phần “Đen” trong tập tiến tình nầy). Khi khởi đầu viết tôi rất muốn sự trung thực. Dù tôi có phải viết ra tất cả những gì xấu xí nhất của đời tôi. Tôi muốn nói lên tất cả những gì ngu muội, những gì tăm tối, những gì xấu xí mà tôi có được như những gì tốt nhất, thông thái nhất, sáng sủa nhất, vững vàng nhất mà tôi đã có bây giờ. Vì tôi biết những cái NHẤT và những cái “NGU” đều ngang bằng nhau cả như Đen và Trắng cũng chỉ là “MỘT” mà thôi ! Biết thế, nhưng “ Cung kính không bằng thuận mạng” và tôi sẽ chừa đi, bớt đi những mẫu chuyện của giờ thứ 25 và để cho tiếng lời cùng hình bóng của Hexis Zorba trở lại thời đồ đá (ZORBA THE GREEK - NIKOS KAZANTZAKI) một tác phẩm độc đáo phi thường - bản tiếng Anh của Corkl Wildman-Ballan times books - 1965).
    Đến đây, tôi sẽ nói thêm một người nữa. Một bóng hình như thực như hư đã hiện hữu với Phù Vân Cốc, một nhân vật không nên loại trừ, một bông hoa hướng dương vĩ đại “không hướng về mặt trời mọc” viên “Tỵ-thân-Châu hóa sạng” đó là “Bùi-Giáng”.
    Bùi-Giáng không phải là người của Phù Vân Cốc. Anh không phải là đệ tử của tôi. Anh không chạy theo tôi, anh không chạy theo bất cứ một triết lý nào hay một người nào cả, vì anh đã hoàn thành một con người đích thật, một người tốt, một người lương thiện, anh không vọng tưởng, không điên.
    Hồi đó tôi rất “mê đọc sách” và thường tự cho mình đã được đọc nhiều sách hay và có trí nhớ. Một hôm tôi gặp được một cô bé chuyên lấy sách làm “thức ăn” cô ấy lại còn có một trí nhớ kinh khủng (có thể làm môn đồ Phạm Công Thiệu). Khi nói về tác phẩm và tác giả cô quả là một đối thủ đáng gờm... Cô bảo : Thầy chưa đọc được cuốn-sách làm biến đổi thế giới đâu ! Tôi nghi ngờ nói, một cuốn sách gì mà biến đổi được thế giới ? Trừ kinh Phật Koran, Vedas, Cựu-ước. Cô bảo đó thuộc họ Kinh điển rồi. Con nói là sách kinh con không những đọc cuốn sách đó mà còn nhớ cả mục lục của nó nữa ! Tôi yêu cầu cô đọc cho nghe mục lục, cô nói, thầy nghi thì ghi lại khi nào có sách thầy dỡ ra coi có đúng không ! Và cô đọc mục lục :
1/ Phân tách chánh sách Q.lực
    Niccolo machiavelli : Ông Hoàng
2/ Ngọn đuốc Mỹ-Châu
    Thomas Paine : Lương Tri
3/ Thánh-tổ của chế độ tự do kinh -doanh
    Adam Smith: Quốc Phú Luận 
4/ Quá nhiều miệng ăn
    Thomas Malthus : Luận về nguyên tắc sân số
5/ Cá nhân với Nhà nước 
    Henry David Thoreau : Dân sự bất phục tùng.
6/ Thập tự quân của giới hạ lưu
    Harriet Beechet Stowe : Căn lều của chú Tom.
7/ Nhà tiên tri của tầng lớp vô sản
    Kart Marx : Tư bản luận
8/ Thủy quái chống Đại Dương
    Alfred T.Maham : Anh hưởng uy lực trên biển cả trong lịch sử.
9/ Địa-tâm và thế-giới đảo.
    Sir Hatford J. Mackinder : Căn bản địa lý của lịch sử.
10/ Nghiên cứu về cuồng vọng quyền lực
    Adolf hitler : Tôi chiến đấu (Mein Kampt).
11/ Vũ-trụ tuần hoàn
    Nicolaurs Copernicuc : De revolutionibus Orbium Coelestuium.
12/ Bình-minh của khoa học hiện đại
    William Harvey : De Motu Cordis (vai trò của tim).
13/ Vũ-trụ-hệ : 
    Sir Isaac Newton : Nguyên tắc toán học.
14/ Khôn sống mống chết 
    Charles Darwin : Nguồn gốc của chủng loại 
15/ Tâm-lý gia của cỏi vô thức
    Sigurund Treud : Đoán mộng
16/ Cha đỡ đầu của kỷ nguyên nguyên tử
    Albert Einstein : Thuyết tương đối
    (Mục lục trên tôi đã chép ra từ)

NHỮNG TÁC PHẨM BIẾN ĐỔI THẾ GIỚI
(BOOKS THAT CHANGED THE WORLD)
Chứ tôi không đủ khả năng nhớ như cô ấy.
    Mấy hôm sau tôi đi Sài Gòn để tìm mua một số sách, trong đó có tác phẩm được  cô bé giới thiệu. Ra khỏi nhà phát hành sách Ấn-Quang tôi gặp thầy Phú. Phú là tay chơi bóng bàn khá tốt, thầy còn trẻ nhưng có tác phong đặc biệt trình độ mà phóng khoáng, thầy Phú nói với tôi: Đi chơi không? Chiều nay có cuộc nói chuyện thú vị lắm! Tôi và thầy Phú đồng đến 222 đường Nguyễn Thiện Thuật và chính nơi đây, tôi và anh Bùi-Giáng đã tách rời một nhóm người ra đi và không trở lại ... (cuốn sách nầy sẽ có bài viết : Bí mật của Bùi-Giáng và giấc mộng 15 ngày).
    Ở đây xen không nói về đoạn vì sao Bùi Giáng đến với Phù Vân Cốc. Đại Tỉnh Thiền- sư là Pháp hiệu của anh Bùi Giáng. Anh đến với Phù Vân cốt như một chùm quả dại ngọt ngào thơm lành kỳ bí. Chùm quả dại nầy người ta chỉ có thể gặp được giữa rừng già, hay trên núi cao giữa miền Biên Địa.
    Những ngày ở Phù Vân Cốc tôi có đưa Bùi-Giáng đi dạo chơi đây đó trong vùng, nhiều người có thấy anh không khác một vị hòa thượng. Đầu phủi bóng, y phục thiền màu vàng thanh. Suốt quảng thời gian đó (kể cả những chuyến đi Đà Lạt Nha Trang ..vv) anh không còn hý lộng được vào những trò “Điên-Ảo”. Bùi-Giáng đã hiện nguyên hình từ trong ra ngoài cái vô-hạn mà bình thường rỗng suốt, thuần chân của một Thiền sư tầm cỡ. Tôi tạo cơ duyên để làm anh thành biểu tượng ... “Sa Môn”. Nếu tôi đã dụng ý ... cho một tham vọng Tôn Giáo, điều này không trở thành hoàn-thiện. Nếu một người có trình độ Phi-bản-lãnh (vượt qua bản lãnh) thì đã Hòa Quang, Đồng trần rồi (Giống người họa sĩ vẽ được một con rồng sắc sảo. Nhưng y không cởi được con rồng đó. Một người khác có thể vẽ con kỳ lân nhưng vẫn không ngồi lên lưng nó được, không phải nó là đồ vẽ .... bởi lẽ nếu có người có thể sử dụng được Rồng hay Kỳ lân thì .... không cần phải vẽ vời ra nữa.
    Bùi-Giáng đến với tôi ở Phù Vân Cốc chỉ là một giấc mơ ! Và tôi viết những dòng nầy cũng trong hồi đang mộng, mong rằng theo dưới ngòi bút phàm tục của tôi. Hồn thiêng anh du ký thành những dòng hải lưu và những đám mây không ngừng rọi bóng xuống mặt trùng dương vạn đại. Đó là :
“ Đi về giữa bút hồn tôi”
Tình trong bóng lạnh còn ngồi lại kia”
Và cũng xin được tặng hai câu thơ này vào cõi vô-cùng, ghi nhớ :
Trăng vàng gọi mãi mây bay
Ngàn trùng vi vút giữa ngày phù du !
    Tôi xin dừng lại những chân dung của Phù Vân Cốc ở đây, và tôi sẽ điểm lại một số những bức tranh huyền diệu từ tâm lưu xuất tại Phù Vân Cốc trước khi chúng trở thành mây và cùng tôi vượt ngàn lên đỉnh Núi Bao-Quang Phong La Động.
    Có lần tôi nói với một người học trò rằng: “Đời người như một cuốn sách”, mỗi khi lật qua trang đều không giống nhau. Ngày hôm nay và ngày mai trong cuộc sống không giống nhau. Trong cuốn sách, mỗi đoạn, mỗi chương đều sai khác, đời người được thời, thất thế, bỉ cực thới lai đều không lườn được. Trong một cuốn sách, cho đến mỗi câu, mỗi hàng, mỗi chữ ... đều riêng lẽ. Trong mỗi ngày, buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, tối và mộng đều không dính gì nhau cả !.
    Như một dòng nước trên sông, những con sóng đùa đẩy lẫn nhau mà không bao giờ tự biết. Cho đến hai giọt nước cận kề nhau cũng không tự biết. Ta đừng vội nói, có một cái gì đó liên kết chúng lại để được sinh tồn. Không đâu, nếu nói thế là ta bị lừa rồi. Ta cảm giác như có một cái gì đó là thường còn, thường trụ. Có một cái gì đó thường tại, hiện hữu .... Đó là ma lực của ảo tưởng. Đó là tự ta tạo “Hữu”, tự mình tạo oan kết. Như kinh nói : 
Tự tâm  thủ tự tâm
Phi hoạn thành hoạn pháp (1)
(Sinh tâm chấp thành tâm
Không hoạn huyễn thành ra hoạn)
    Nếu ta tin có một thực thể đó là tự ngã của ta, ngay cả đến một nguyên tử ( newtron, proton đơn vị nhỏ nhất theo nguyên tố hóa học có một hạt nhân ở giữa và một hoặc nhiều electron bao quanh) cũng không có đâu! (Chính Heisenberg cũng đã nói : Các nguyên tử và các phần tử đều không có thật, chúng chỉ là những tiềm lực hơn là những vật thể hay những sự kiện) 
    Ở đây ta không va chạm đến sự tranh cải (Nhị-Biên) hay phủ định một cái gì, bởi vì tất cả đều là sự gợi lên.
    Hãy thấy cái “CHƯA-SANH” thì cái TA sẽ không sanh. Điều này chẳng những rất quan trọng trong Chính Kiến ( hay tà kiến). Nó xác định cả những giá trị thực trong nền vật lý, hóa học, triết học, nhân văn và xã hội, nó thẩm định được toàn diện thế gian pháp mà nó còn xác định được sự tái sinh hay giải thoát của kiếp người.
    Tôi còn nhớ một câu nói thật phi thường, sáng rõ, người có trí không còn có thể nghi ngờ được nữa. Ngoài giáo lý của đạo Phật không một triết gia thượng thặng nào có thể nói lên được : “NẾU KHÔNG CÓ NGHIỆP QUÁ KHỨ CỦA TA THỜI THÂN HIỆN TẠI CỦA TA KHÔNG CÓ”. NẾU TRONG TƯƠNG LAI TA KHÔNG HIỆN HỮU, THỜI KHÔNG CÓ TRỞ NGẠI GÌ (Palibodha) CÓ THỂ HIỆN HỮU NƠI TA (No Essam no ca me siya).
    Chúng ta hãy biết rằng Nghiệp là một tập-khí ám ảnh. Nghiệp là một tập quán đã hình thành, Nghiệp là một thói quen ta có thể thấy được và Nghiệp là một tái khởi sanh ta có thể quan sát được. Thân, khẩu, ý của ta là một luồng năng lực trôi chảy không ngừng. Ta có thể ví nó như một thác bạc trắng tinh thơ mộng. Trong con thác ì-ầm chảy xiết đó bề mặt như một vải lụa sáng óng ánh, màu óng ánh đẹp đẽ kia quả là không thực, nó là một vận tốc tạo hình ... vận tốc kia cũng không có thật, vì tự thể mỗi giọt nước tạo áp lực như vòng lửa quay nhanh mà mắt người không nhìn kịp. Ngay tự thân của phân tử nước còn không thể được thì làm sao ta có thể nhìn thấy...? 
    Thân, lời và ý của ta cũng đều là một một con thác đang đổ, một dòng sông đang trôi, thân ta như con sông, ý ta như sóng nhấp nhô, tiếng lời như nước chạm thành âm.
    Câu văn đoạn trên nói rằng : Nếu không có nghiệp quá khứ của ta thời thân hiện tại của ta không có.
    Sở dĩ  TA CÓ THÂN, vì TA-CÓ QUÁ KHỨ. “NẾU” ta biết “QUÁ-KHỨ” là cái không có trong hiện tại. Quá khứ chỉ có thể hiện hữu lên bằng “Tư-duy” bằng “Tư-tưởng” bằng TƯỞNG.
    Một lúc nào đó ta biết được tưởng chính là bóng dáng của sắc không. Tưởng là tên khác của hình-ảo không có thật. Hãy viết ba chữ “NGHIỆP QUÁ -KHỨ” bằng phấn vôi lên một bảng đen, càng nhìn ta càng thấy chữ kia càng rõ ràng có thật ..., giờ ta hãy xóa sạch ... ba chữ chưa viết ... (      ) đó đi lòng ta nhẹ nhõm, xoay vào bên trong ta không tìm đâu ra “QUÁ-KHỨ”! “Nếu không có Nghiệp (Tưởng) quá khứ của ta - thời thân  hiện tại của ta không có.
    Không có cái QUÁ-KHỨ đồng nghĩa là không có HIỆN TẠI và không có VỊ LAI. Nếu trong tương lai ta không hiện hữu, thời không có trở ngại gì (patibodha) có thể hiện hữu nơi ta - (không có trở ngại gì có thể hiện hữu nơi ta). Tức là ta đã GIẢI-THOÁT. Tôi nói xác định được sự tái sanh hay giải thoát của kiếp người (câu trên) là như thế.
    Trong tất cả chúng ta ai cũng biết nóng lạnh tăng giảm ở trong lòng thoạt đến, thoạt đi của xúc thọ bản chất của chúng không tồn tại. Ta không làm một cố gắng để thấy rõ những phản ứng sinh diệt như thế thì tự nó sẽ là những “trở-ngại” (Palibodha). Những chuyển động và ngưng tụ đó làm liên hệ tiếp nối những quá khứ ... đó là suy tưởng.
    Suy tưởng phải bắt nguồn từ cái trước, suy tưởng hay nghĩ tưởng là bản chất của cái gì đã qua- những thức ăn không tiêu hóa thì luôn tồn đọng, những nghĩ tưởng luôn là sự trường tới chương lên, sình lên như hình của bong bóng phồng lên rồi bể vỡ. Chính nơi nào nó căn phồng lên thì cũng từ nơi đó nó phải tiêu tán, bễ vỡ.
    Thấy như thế là ta đã giác ngộ, ta thoát ly ràng buộc, nô lệ và caí tương tục để trở thành phải tức thì “chấm dứt”
    Thưa các bạn thân quý,
    Chúng ta là những người đã chìm đắm lâu dài trong sanh tử. Tôi và các bạn đều tăm tối trong sự tái sanh. Chúng ta luôn bày tỏ sự khôn ngoan trong cuộc sống, chúng ta luôn đưa ra những đòn đỡ, những cột chống từ kiến thức kinh nghiệm bản năng cho đến những phương tiện vật chất. Chúng ta muốn mình phải hơn người xung quanh về mọi mặt, nhưng thực ra chúng ta rất thiếu, chúng ta chưa bao giờ đầy đủ, chúng ta không biết đủ. Sự ước vọng chúng ta không dừng, chúng ta sợ hãi.
    Có những người chưa bao giờ nhìn lại chính mình, có những người chưa biết mình đã làm gì hay đang làm gì, chưa nói những người không biết mình đang nghĩ gì. Đa số thì không hề biết vì sao mình suy nghĩ như vậy. Ít người biết được nguyên nhân mình suy nghĩ và dừng lại những tư duy trong tâm tưởng mình.
    Có một lần tôi hỏi một cô giáo cấp ba : 
    Có khi nào cô thấy mình không ? 
    Có chứ thầy ! cô trả lời. 
    Tôi hỏi : Thấy gì ?
    Trước khi ra khỏi nhà lúc nào con cũng soi mình trước kiếng ! cô nói.
    Tôi biết cô giáo này rất tế nhị, cẩn thận. Cô phải coi kỹ lại những đường son môi, những nét kẻ mày bị lệch màu áo, đôi giày.
    Tôi thật buồn cười ... không riêng cách trả lời của cô giáo mà cả câu hỏi của tôi.
    Suzuki từng nói ý-niệm căn bản của Thiền là tiếp xúc với những tác động nội tại của con người mình và tiếp xúc một cách trực tiếp hết sức. Không cần viện đến bất cứ một cái gì ngoại tại hay thêm thắt.
    Thiền là một nghệ thuật nhìn vào bản tính của hiện hữu mình; nó là một con đường từ triền phuợc đến tự do, nó giải phóng những tinh lực tự nhiên của ta; nó ngăn chặn chúng ta khỏi hóa điên hay tàn tật và thúc đẩy ta bộc lộ cái khả năng hạnh phúc và thương yêu.
    Thế nên lối nhận thức của Thiền là đi ngay vào chính đối tượng và thấy nó, có thể nói là từ bên trong sự lĩnh hội lập tức về thực tại này. Cũng có thể gọi là có tính cách động năng hay sáng tạo.
    Như tôi đã nói ở trên là : Chúng ta rất thiếu, chúng ta chưa bao giờ đầy đủ, chúng ta không biết đủ, sự ước vọng chúng ta không dừng, chúng ta sợ-hãi.
    Như Erich From đã nói “Con người chín chắn” nếu hắn tự thanh tịnh khỏi “phiền não” và sự can thiệp của trí năng có thể thực hiện một cuộc sống tự do và tự nhiên ở đó. Những cảm giác phiền não như sợ hãi, âu lo hay bất an không có chỗ để tấn công hắn.
    “Ở đây ta cần biết về âu lo có hai loại, Âu lo thần kinh và Âu lo sinh tồn. Cái Âu lo sinh tồn có tính cách căn bản hơn và hơn nữa khi ta giải quyết được cái Âu lo căn bản thì các âu lo thần-kinh hẳn sẽ được giải quyết.
    Tất cả các hình thức âu lo phát sinh từ sự kiện rằng ở nơi nào đó trong ý thức ta có cái cảm giác “mình không thấu hiểu được trạng huống” và sự thiếu kiến thức này đưa đến cái cảm giác bất an ninh rồi đến âu lo với đủ mức độ căn thẳng của nó.
    Và nếu trước khi hắn thực sự có kinh nghiệm NGỘ là sự thể hiện tối hậu về Thiền hắn được biết chút ít cái gọi là “Người” của hắn thì hắn có thể giải tỏa quá nữa phần trong sự dồn ép trì độn nơi tâm- linh hắn như :
    Richard De Martino đã nói: Đứa hài nhi chưa là người. Kẻ ngu không bao giờ là một con người, đứa trẻ-sói chỉ là một bán nhân và kẻ loạn tâm có lẽ không còn là một con người. Bởi vì sự khởi dậy của Ngã thức đánh dấu sự khởi dậy của chủ thể tính; Đời sống trở thành đời sống người đúng là qua chủ thể tính, như là chủ thể bản ngã ý thức được và nó chính nó.
    Thực ra những tâm phân học hay những tâm lý gia có thể đưa chúng ta đến một đoạn đường dài, đến một giai đoạn nào đó, một khúc quanh quan trọng hay tận bờ mé của biển nhưng bổn phận của chúng ta còn lặn sâu hơn nữa ... tới đáy biển hay qua bờ bên kia. Như tất cả mái nhà nóc ụ của đất đai thì xứ Tây-Tạng là nóc của địa cầu. Núi Hy-mã Lạp Sơn là núi non hùng vĩ nhất. Phật là Nhất Thiết Trí. Kinh Lăng-Nghiêm là ngón tay chỉ đường rõ ràng thẳng tắp nhất. Nếu ở đây chúng ta còn chưa được rõ ràng và muốn qua bờ bên kia thì hãy quay lại với kinh bộ Suramgama thủ lăng nghiêm mà Đức Phật đã nói về chỗ TÂM-ĐỘNG, nếu chúng ta không nhận ra tự tính vọng khởi nầy từ đâu thì sẽ bị “đảo nghịch” ngay. Nghĩa là ta tự lấy tâm vọng động làm tự ngã, ta thấy như là tự tính (tự ngã) và phải chịu khổ sanh tử.
    Kinh dạy, CĂN BẢN THỨC CHÍNH LÀ THỂ NGHUYÊN MINH THANH TỊNH. Sáng suốt nhưng vì không giữ được Tự Tính nầy nên cứ mãi tùy duyên mà sanh ra vọng tưởng rồi lấy vọng tưởng này làm Tự-Tính mà không còn trở về nguồn được nữa. Hằng ngày tuy sống ở thể nguyên minh mà không tự biết.
    Đức Phật lại bảo : “Cái Năng suy nghĩ sưu tầm đây không phải là tâm ta đâu” mà cái ấy gọi là vọng tưởng tiền trần ám che một sự thật (chân tính) Phật bảo ta phải Trực nghiệm cho tinh tường cái ấy là chân hay vọng và tiếp theo Ngài lại xác định cho ta rằng ; “Lìa các tiền trần mà có thể tánh phân biệt, đó là tâm chơn như của ta; nếu là các tiền trần mà không thể tách, đó là bóng tiền trần phân biệt. (nhược ly tiền trần, hữu phân biệt tánh, tức chơn như tâm; nhược phân biệt tánh, ly trần vô thể, tự tắc tiền trần phân biệt ảnh sự).
    (Tiền trần có nghĩa là lay động. Không trụ là khách-thường trụ là chủ) và sau mấy lần quyền biến để làm thí dụ Đức Phật bảo cho tất cả biết rằng: “Như chúng sanh nhận định, cái lay động là trần, cái không trụ là khách thì xem xét đầu của A-Nan tự động (Phật phóng ánh sáng một bên ông A-Nan quay đầu nhìn, Phật lại phóng ánh sáng ở bên kia A-Nan lại quay đầu lại.) Còn Tánh thấy vốn bất động, đồng thời xem xét bàn tay Như Lai tự mở, tự nắm như thế cũng đủ tỏ NGỘ rồi. Chỉ vì nhận lầm cái động làm thân đó là gỉa thân chớ không biết cái bất động mới là chơn thân. Lại còn nhận lầm chỗ động làm cảnh đó là giả cảnh, chớ không biết chổ ‘THƯỜNG TỊCH” mới là chơn cảnh. Vì thế quên mất tánh bất động. Xưa nay cứ vương vấn những thứ “ĐỘNG” mà vọng tưởng điên đảo, bỏ chơn theo vọng, các niệm mê muội thay đổi sanh diệt nhận vật làm mình tạo sự trái nghịch thành chữ  Tự trói buộc trong vòng luân hồi sinh tử.
    (Theo bản dịch Từ Quang - Chơn đức tu viện )
    Các bạn thân quý: Qua lý thuyết và kinh văn trên ta có thể ý-thức được “vấn đề” phải đến với cuộc sống là gì. Nếu không có chân lý chúng ta không tồn tại. Nếu chúng ta đạt được chân lý chúng ta sẽ tồn tại trong vinh quang, chúng ta tồn tại nhưng phi chủ thể, vì Phi chủ thể chúng ta vô-ngã. Từ cái nhìn vô-ngã ta có hiểu biết, có tình thương. Không phải hiểu biết “một cái gì” không phải tình thương gia đình, quê hương, nhân loại ...? Đó là tình thương Vũ-trụ, nói đúng hơn cái ta là Vũ-trụ tình thương.
    Bạn có thể Nghi, bạn có thể Tin, bạn có thể Hiểu và rồi bạn có thể .... GIÁC NGỘ.
    Người ta hoặc là Chết hoặc là Sống nhưng khó mà hiểu được vấn đề Chết-Sống , dù có hiểu được Chết-Sống nhưng khó làm rổng rang trong suốt nó.
    Có lần Bùi-Giáng nói cho tôi nghe về giấc mộng suốt 15 ngày của anh. Tôi có hỏi anh có thấy được “cái hình thành ra mộng không”? anh yên lặng và ra chiều nghĩ ngợi ... Tôi nói : Lấy ký ức mà nhớ, lấy tri giác mà biết đó là mộng. Nhưng những gì ta cho là thực tại ta đang sống trong ngày nay và những giấc chiêm bao lúc ta ngủ, hai thứ đó đồng một gốc rễ mà thôi.
    Vì thế mà con đường phải đến là sự tỉnh thức và Giác ngộ. Tiến trình của sự chứng nghiệm đó không phải là ĐẠO. Không phải là ĐỜI. Vì nó là một dòng chảy từ vô-hạn trong cái vô-lượng và vốn vô-cùng. Và nếu ai muốn chia chẽ nó người đó trở thành phàm tục ngay. Như thực-dân có “chủ-mưu” khi chiếm thuộc địa rồi thì “Chia để trị”.
    Mặc dù trong đạo Phật có nhiều pháp môn để tu học nhưng không phải là chia cắt. Người mạnh dạng thực tập đúng pháp như nhà khoa học với chí nghiên cứu thí nghiệm mãi thì có sự phát sinh hoặc rút ra được những công thức căn bản. Với giáo lý thực tiễn hiệu ứng của Đức Phật cũng vậy, người không hai-tâm đi vào sẽ đạt nhiều lợi ích. Tôi chí tâm để học giáo lý thì tôi đã hiểu được giáo lý : thế nào là KHỔ - sao gọi là VÔ-THƯỜNG. Nói vô-ngã là chỉ cho cái gì (hoặc là không cái gì) nói không là “KHÔNG VỚI CÁI GÌ” tôi dứt khoát không còn bám trụ vào những quan niệm THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH của thế gian pháp. Dù Phật nói hay không nói thì Thật-Pháp vẫn không thay đổi. Đó là “ĐẾN-ĐỂ -MÀ-THẤY”!.
    Tôi : THẬT VÌ SANH-TỬ, PHÁT LÒNG BỒ ĐỀ, DÙNG TÍN NGUYỆN SÂU- TRÌ DANH HIỆU PHẬT.
    Tôi hạ thủ công phu Niệm-Phật chẳng bao lâu mà đã có hiệu ứng “Thấy được tịnh tướng “được“ Tuỳ Tín hành”. Tôi duyên rộng theo các Kinh Đại-Thừa Như Hoa-Nghiêm .. liền đạt được “TÙY PHÁP HÀNH”.
    Thuận pháp không phải bên ngoài mà cái thuận (tùy) đồng vọng cả bên trong, Pháp-niệm rộng rãi tôi tụng đọc các thần chí bí mật Da-Ra-Ni Như Lăng-Nghiêm, Phật Đĩnh Tôn Thắng cùng trên 10 loại Đà Ra Ni khác nữa. Tôi phát hiện được cá luồn âm thanh lưu chuyển ở bên trong. Lại tụng đọc cả 21 danh hiệu Phật và 34 bài kệ truyền pháp của Dòng Thiều tôi đạt được TÂM-DỰ-LƯU. Tôi phá vỡ THÂN KIẾN, HOÀI NGHI và GIỚI THỦ.
    Các bạn không nói tôi cũng tự biết mình rất Độn-Căn (lại Nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng rất thâm trọng!). Một người tự kêu, tự đại, bản ngã như tôi đã khốn khổ”Dụng-tâm cho đến kiệt-tận trên 20 năm mới được nất tâm Dự-lưu sơ khởi như thế thật là hổ thẹn !.
 
Bản quyền thuộc về Trang Thơ Phù Vân Trang Tử
Email: phuvantrangtu@gmail.com
Website: http://phuvantrangtu.com
Nghiên cấm sao chép khi chưa được sự đồng ý của tác giả.
Thứ ba - 27/06/2017 01:08   Đã xem: 23

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những bài mới hơn

Những bài cũ hơn

Facebook PhuVanTrangTu
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây