Trụ trì

Sáng hôm sau, một mình tôi lơn tơn đi xuống Biên Hòa, đi dọc theo đường Trịnh Hoài Đức, đi lòng vòng một hồi lại lọt vào một ngôi chùa. Chùa có sân cỏ rộng, gần bằng một nửa sân vận động
Sáng hôm sau, một mình tôi lơn tơn đi xuống Biên Hòa, đi dọc theo đường Trịnh Hoài Đức, đi lòng vòng một hồi lại lọt vào một ngôi chùa. Chùa có sân cỏ rộng, gần bằng một nửa sân vận động. Ngoài sân lại có ba tượng Phật, Bồ tát lộ thiên rất lớn đứng trên tòa sen cao, sừng sững, còn màn tô xi măng nguyên xi. Vì chu vi đất chùa rất rộng nên Chánh điện, nhà Tăng, nhà Khách, cách nhau rất xa. Tôi vào nhà Khách để thăm quý thầy và xin lên chùa lễ Phật. Nhà khách lịch sự thoáng mát. Trên bàn nước có một khay trà, có bình trà mới chế và ly tách sạch sẽ nhưng không có bóng thầy cô nào cả. Tôi thong thả ngồi xuống ghế Kỹ ( bộ trường kỹ trong phòng khách) rót nước ra tách, tách nước đang nóng như mới vừa chế. Tôi chưa uống đang yên lặng nhìn khói hơi từ tách trà bay lên khoảng không nhè nhẹ rồi lan dần lên phía trên, bỗng từ phía sau có tiếng niệm “Nam mô A Di Đà Phật!”. Tôi nghiêng người quay lại thấy một cụ ông cao lớn, đường bệ, mặc bộ Âu phục màu xám, trông có vừa có uy mà vừa phúc hậu. Đó là Cụ hội trưởng Tỉnh Hội Phật Học Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Cụ mời tôi ngồi, vui vẻ tiếp chuyện. Cụ nói:
        _ “ Đây là Tỉnh Hội Phật Học Biên Hòa, trước đây có Thượng Tọa Tâm Chơn trụ trì, nay ngài đã già yếu, nên có nơi riêng để nhập thất tu tịnh rồi”.
         Khi biết tôi trước đây đã ở chùa Xá Lợi Sài Gòn mà Hội trưởng là Cụ Thánh Trí Mai Thọ Truyền. Ông cụ vui mừng và chắp tay mời tôi ở lại chứ đừng đi đâu nữa. Tôi trong ý cũng còn lưỡng lự chưa quyết định được thì cụ nói tiếp:
        _ “Tôi mời thầy ở đây làm Chánh trụ trì”.
          Thấy Cụ hội trưởng rất chân thành thẳng thắng,  lại có nhân cách, tác phong thật đường bệ, nên tôi nhận lời.
         Tôi ở lại đó mấy hôm thì Cụ hội trưởng mời tất cả ban Chức sự trong Hội tập họp về Chùa để làm một lễ thỉnh và ra mắt trụ trì. 
        Lúc đầu tôi tưởng chùa vắng như thế này thì không ai lui tới nhiều, mình có thể ở lại đây để đi Kinh Hành niệm Phật và tụng Pháp Hoa. Giờ đây thấy rất đông, riêng ban Chức sự cũng đã có mười mấy người. Tôi hơi thất vọng vì trong hội có nhiều công chức cấp cao, họ rất bản ngã khó mà điều động được, như Cụ hội trưởng mà tôi gặp, đó là cha của anh Phú -  phó tỉnh trưởng, cố vấn là ông Hồ Văn Tam - chủ tịch Hội Đồng tỉnh, ông quận Hưỡn, Tám Thiền… đều là công chức cả. Cụ Hội trưởng Hồ Văn Thể giới thiệu tôi với tất cả trong ban Hội và toàn thể  đều nhất trí thỉnh tôi làm trụ trì. Tôi từng ở nơi trung ương chùa Xá Lợi rồi, nên những việc Hội tôi cũng biết được ít nhiều. Những gì có tính nguyên tắc, hành chánh thì tôi rất dở. Như các bạn đọc đã biết từ trước, tôi luôn sống theo thiên nhiên, phóng khoáng lại có tính trẻ con, nên những gì thuộc về quy định hình thức bài bản thì tôi đầu hàng ngay. Sở dĩ tôi ở đâu cũng không lỗi thời, và thích hợp được, là nhờ tôi rất biết nương tựa vào giáo lý của Phật. Tôi có thể dung hòa được kinh A Di Đà và kinh Kim Cang, trì các Thần chú và thiền định (Mật Tông và Thiền Tông) Duy Thức và Tính Không. Mặc dù hồi đó tôi chưa được “Chứng nghiệm” chưa thật biết được giác ngộ mùi vị ra sao và phải làm sao để “nếm” được sự thật. Tất cả cái bất đồng, so le trong cuộc sống đều có từ một bản chất mà ra, khi ta hiểu được bản chất thì sự bất đồng tự tan biến. Hoặc hiểu được tính thể, cấu trúc của bất đồng thì trở về được bản thể.
        Tôi trụ trì một ngôi chùa lớn, cận kề được cả một ban hội như Hội Phật Học này được là nhờ tôi “ không cố chấp” gì cả. Hướng của tôi là muốn chứng nghiệm bản tâm nên Pháp nào tôi cũng thực tập như những đòn bẩy trợ lực. Tôi không bao giờ thật tâm xác định cho mình là tôn phái nào cũng như cách đọc sách hồi đó của tôi, mỗi đêm, tôi đều để một chồng sách trên bàn hay đầu nằm, tôi cứ xem hết tập này đến tập khác. Những cuốn sách nội dung, triết lý, pháp môn hay đường hướng không bao giờ giống nhau được. Từ chỗ thấy “Không giống” bất đồng đó mà ta khó có thể đọc lần thứ hai tác phẩm khác được, như ta vừa đọc Milarepa thì không đọc Zanoni, vừa đọc mấy bài Nam Hoa của Trang Tử thì không cầm tác phẩm của JP Sartre lên mà đọc được. Cũng như vừa nuốt một đũa hủ tíu thì không đưa thêm vô miệng một muỗng chè bánh canh được. Ta không đi ngược lại với hành động đang diễn tiến vì đó là lực của thói quen. Ta bị thói quen vì bị xác nhập vào hành động mà ta  gọi là “cố chấp” hay chấp thật, ta có thể giải tỏa hành động chấp thật. Khởi đầu là một bước nhảy “không chấp” và kế đó là ta phải thấy mình quả nhiên “không có cái chấp”.
        Biết Vô chấp đồng như biết vô ngã. Tôi mò mẫm mãi rồi tìm được cái chốt của nó “ Không thành kiến, hay Kết tinh từ một Hành động, một lời nói, một ý nghĩ, chấp nhận cái sai biệt, cái so le, cái “bất cân xứng”. Từ đó, tôi tập lần, soi rọi sâu dần, thoát ly ra dần, tiến đến hợp thời với lời nói của người xưa:
                              Rốt ráo đến cùng cực
                              Chẳng còn mảy quy tắc
                              Bình đẳng hiệp đạo tâm
                              Im lặng niềm tạo tác
          Khi cởi được gút lớn, thì gút nhỏ dễ dàng mở ra, hiểu được thực tính của hành động thì hành động tự do.
         Nguyên lý siêu việt đó chưa hoàn thiện trong tôi, nhưng từ đây về sau tôi dựa vào đó mà hành động bắt đầu khi tôi  chính thức được mời làm trụ trì chùa Tỉnh Hội Phật học Biên Hòa.
         Sau đó ít lâu, tôi nói với mấy ông trong hội rằng:
          _ “Hội Phật học là một đoàn thể từ nhân cách người Phật tử họp lại để học hỏi và truyền bá giáo lý của Phật, còn chùa là biểu tượng để duy trì Thế gian, Tam bảo nên phải có Tên chùa. Có vị nói đây là Tỉnh Hội Phật học thôi. Tôi nói: 
          - “ Có chánh điện, có Phật ngồi, nay có Tăng ở thì phải đặt Tên chùa như ở Trung ương là Chùa Xá Lợi”.
         Tất cả đều đồng ý. Tôi đặt tên chùa là chùa Kim Quang. Từ đó,  ở đây ai cũng gọi là Chùa Kim Quang. Đất chùa thừa rộng nên cụ Hội trưởng xin phép mở trường Bồ Đề. Tôi không có gì để đóng góp trong việc xây dựng. Chỉ có một vài ý kiến trao đổi và khuyến khích về hướng thành lập trường. Đó là Trường trung học Bồ Đề đầu tiên ở Biên Hòa. Ông hiệu trưởng và giám đốc đã mời tôi dạy giáo lý cho hai lớp đệ Lục và đệ Ngũ. Tôi không dạy theo giáo trình như các trường Bồ đề khác. Mục đích của tôi không nhất thiết làm cho học sinh có khuôn phép hay khằng cứng về kiến thức mà các em phải hiểu là từng mỗi giáo lý là sự cần thiết đáp ứng cho chính mình. Học Phật là cách làm mới lạ trong ta. Ví dụ như em chấp tay xá chào một vị Thầy hay Kính lễ Đức Phật là lúc các em có thể ý thức được một xúc cảm êm dịu, một cử chỉ nhẹ nhàng, tôn kính trong cái Thật hơn là trong sự cung cách. Tôi cũng dạy về lịch sử Đức Phật và sự truyền bá danh từ Phật học và các môn phái Đạo Phật. Tôi cũng hay kể những truyện trong Dataka, tiền thân Phật, có khi tôi cũng đọc cả truyện Liêu trai của Bồ Tùng Linh cho các em nghe. Hoc sinh mấy lớp tôi dạy rất thương tôi. Sau giờ học hay ngày nghỉ các em thường đến quay quần bên tôi, nhiều lúc tôi nằm võng giả bộ ngủ để khỏi nói chuyện. Các em đứng trên đầu võng và đưa tôi ngủ. Quanh chùa đường hẻm, nhà cửa chen chúc, phần nhiều là dân lao động, phần đất thừa trong xóm rất hiếm. Ở đó duy nhất chỉ có sân chùa Kim Quang là rộng rãi và thoáng mát không đâu bằng, vì thế mà chiều nào các em nhỏ,  lớn đều vô sân chùa chơi rất đông. Các em nhỏ thì chạy nhảy, đuổi bắt thường không tránh khỏi tiếng động ồn ào. Các ông hội là người lớn tuổi, tư cách thì quá đứng đắn bệ vệ, nhiều ông cũng rất kênh, hách, không thể giảm bớt được quan liêu dù là một Phật tử. Mỗi lần các ông vào chùa  gặp các em ồn ào chạy nhảy như vậy thì rất bực mình. Một vài ông la rầy đuổi các em đi ra khỏi cổng chùa. Nhiều em láu táu, ngang bướng, chọc giận mấy ông. Đây là hiện tượng phiền não thường xuyên ở chùa.
        Tôi là một người có bản chất thiên nhiên tự trong lòng. Thiên nhiên là cái tự nhiên không có sự nghịch hành cùng đối tượng, không trở ngại khi sự kiện xảy ra. Với học sinh ở đây và trẻ em cùng xóm ở chùa này tôi đều thân thiện. Chúng hứng thú trong cả lúc họcvà cả những lúc chơi đùa ồn ào. Những buổi chiều, tôi thường cùng các em đá banh, có khi cùng chơi những trò vui nhộn. Tôi không làm ra thực hành Tứ Nhiếp nhưng tôi đã thành công trong hòa điệu và chuyển hoán. Tôi nói các em nghe. Các em tự động dừng lại, yên lặng những lúc có mấy ông Hội đến chùa.
       Những thành công trong việc ngăn chặn mất trật tự cho chùa sự cảm hóa đến người khác cũng không làm cho mấy ông hội bằng lòng lắm là vì một thầy Trụ Trì của tỉnh hội lại xuống đá banh với trẻ con hàng xóm, lại nằm võng cho mấy em gái trẻ ru ngủ. Dưới những tượng lộ thiên ngoài sân, mỗi tối, thường có các anh chị trẻ ngồi dựa dẫm vào đó để tâm tình. Điều này với mấy cụ là mất thanh tịnh, làm ô uế cửa chùa. Tôi thì không nghĩ như vậy. Tôi có Đức tin nơi Đức Phật, tôi tin Phật không bị ô uế. Giả tỷ có người đi tiểu tiện trước mặt Phật tôi tin Phật không bao giờ nổi sân. Tôi nghĩ Phật không có dính dấp gì mà phải tức giận, Phật không tức giận, không sân hận, tức là Phật Thanh tịnh. Biết chắc như vậy, nên tôi không động tâm, nhờ tâm định tĩnh, không thành kiến về giới tính. Tôi thấy các anh chị nhỏ này thật dễ thương, họ không có tội gì cả. Thấy tôi không đuổi xua hay mời họ đi chỗ khác thỉnh thoảng, đi ngang qua chỗ tôi, trao đổi một vài câu như:
        _ “Ngồi đây được không thầy?”
        _ “Được các em ngồi chơi đi”.
        _ “Ngồi dưới tượng này có tội không thầy?”
        Tôi nói: “Không”.
       Từ sự yên tâm họ nghĩ là thầy tốt. Một đôi lần họ có ấn tượng thân thiện gần gũi với Thầy, với Chùa và dẫn đến tìm hiểu về đạo Phật. Thế nhưng có nhiều người thấy tôi không la rầy nên bọn con trai con gái rủ nhau vào phạm vi chùa để làm chuyện không hay. Lâu dần những bất đồng qua việc hành sự như vậy, không nhất trí, tôi và hội Phật học trở thành có ngăn cách và mặc cảm. Cụ hội trưởng Hồ Văn Thể thì không nói gì, cụ rất tế nhị, thấy tôi trao đổi với anh Nguyễn Văn Thuyết về Krishnamurti và anh Thuyết có tặng tôi ba tấm hình Krishnamurti, cụ cũng xin rửa ba tấm và treo tận trên tầng ba. Thấy ở đây không được thoải mái tôi nói với cụ là tôi sẽ không ở đây nữa. Cụ hỏi:
               _ “Thầy đi đâu?”
               _ “Tôi đi tìm chỗ tu”.
               _ “Thầy cứ ở đây tu, đừng đi đâu”.
        Tôi nói: “Ngồi giữa đông người mà muốn giải một bài toán cũng khó lắm. Cụ có nghe nói về Krishnamurti không? Ông ta bỏ bao nhiêu cơ nghiệp lớn, bao nhiêu triệu tín đồ khắp thế giới, ông bỏ luôn cả chức giáo chủ và cả những vinh dự tột đỉnh mà người ta đã gán cho ông là Đấng Cứu Thế”.
               _ “ Thầy muốn bắt chước ông ấy à ?”
          _ “ Tôi không bắt chước, tôi có khả năng đó”.
          Cụ hội trưởng im lặng, cụ có vẻ buồn. Mấy hôm sau, tôi lặng lẽ rời chùa Kim Quang đến chơi với một vị sư trẻ thuộc phái Nam Tông (Theravada). Mỗi ngày, sư đi khất thực vào buổi sáng, có gì về chúng tôi cùng ăn chung vào buổi trưa. Buổi chiều thì đọc sách và dạo chơi xung quanh. Chùa nhỏ ở cách mặt đường vài trăm mét nên cũng được yên tĩnh, quanh chùa khoảng 50 mét có ba bốn gia đình sống đơn giản. Thỉnh thoảng, họ qua mời tôi ăn cơm. Phía trong xóm đó có một ngôi nhà khang trang, sạch sẽ. Gần bên những lạch nước, lan xa như một mặt hồ rộng lớn, có nhiều cây dừa nước xanh tươi, có khí trời mát mẻ và rất thanh tịnh. Ông chủ nhà ở Sài Gòn lâu lâu mới về. Một lần, ông gặp tôi nói chuyện vui vẻ, ông bảo:
         _ “Nhà không có ai thấy qua đây ở,lâu lâu thì tôi mới về thăm một lần”.
       Tôi dọn đồ về đó ở để thiền tịnh và đọc sách. Ngôi nhà này rất thanh tịnh, không có ai quấy rầy, một mình tôi có nhiều thời giờ để thiền tịnh và đọc sách. Tôi hay thức rất khuya để nhiếp tâm, quán súc (vipassana). Tôi có thói quen khi thực tập một pháp môn tu nào thì thích hành trì liên tục, không muốn bị gián đoạn như hồi ở trên núi Bồng Lai và cù lao Phố. Tôi rất tha thiết niệm Phật, nhờ sức liên tục mà tôi có được nhiều Tinh Tưởng trong thời tu. ( Mỗi lần lạy Phật tôi thấy nhiều loại hoa sen, màu sắc rực rỡ - hay hình tháp đẹp đẽ… ). Ở đây một mình không có gì chi phối nên tôi cũng triển khai được thiền quán mà có được phần kinh nghiệm. Những kinh nghiệm mà trước đây chưa từng xảy ra. Thường thì những cố gắng liên tiếp nhiều đêm cũng rất mệt mỏi. Đến một hay hai giờ khuya, tôi thiếp đi đến 4,5 giờ sáng mới giật mình thức dậy. Một đêm thức tu quá khuya đến 5 giờ 30 tôi mới thức dậy, ngồi một lát rồi rửa mặt đi ra ngoài cho khỏe. Người vẫn còn oải nhưng thức tỉnh thì rõ ràng. Tôi đến đứng sát bên lạch nước nhìn ánh sáng dịu mát ban mai. Những đọt dừa nước xanh non được làn sóng trắng trước bình minh chiếu vào, lay động theo chiều gió đung đưa nhè nhẹ. Tôi nhìn theo cảnh vật trước mắt như bị sức tinh khiết cưc dịu thu hút. Bỗng chốc tôi nghe trong người lụp bụp như sóng nước vỡ, người nhẹ tênh như không có trọng lượng, thân và tâm không còn, vượt khỏi cảm giác khoan khoái, tựa như hư không, khó mà nói ra được. Những kinh nghiệm như thế không dễ thường có, nhưng nó đã đến được một lần trong ta sẽ là ta biến đổi. Nó là dấu ấn không phai lợt trên dòng biến dịch, trên tiến trình thực tập dấn vào chân lý giải thoát. Nó là tiếng nói không lay chuyển trong lòng ta rằng: Nhất định có một cái gì đó đích thực trội hẳn lên, thanh bình lạc trú giữa cuộc sống khổ đau, vô thường và vô ngã.
      Tôi kinh nghiệm được nhiều lần, những kinh nghiệm siêu suy như trên là do sự quyết định trong tôi liên tục tịnh chỉ, minh sát ở chính mình. Nếu mình không nỗ lực, ra công, thì không bao giờ có gì mới lạ xảy ra cả. Trong lúc ta cắm cúi hạ thủ công phu thì không thấy gì, nhưng sau đó lại được khởi lên, những gì chưa từng có. Tôi còn nhớ những kinh nghiệm như trên mà luận chứng ra những nguyên nhân và hậu quả sai biệt trong cuộc sống và cả kiếp luân hồi.
      Những ngày ở Biên Hòa tôi có quen với một sư cụ. Ông ta từ Huế vào Sài Gòn. Vì đi đây đó nên có hiệu là: Ta bà du tăng cố đô Huế. Sư cụ là người dịch Krishnamurti đầu tiên tại Việt Nam. Chính là thiền sư Huệ Hải. Thiền sư Huệ Hải cùng tôi đi thăm nhà máy giấy Tân Mai (Cogivina). Tôi đã ở chơi lại nhà ông kỹ sư nhà máy giấy hơn hai tháng. Ông kỹ sư nhà máy này là một Phật tử rất nghiêm túc. Vợ chồng ông và các con đều ăn chay trường, thờ Phật rất thành kính. Lần đầu đến thăm ông ở văn phòng làm việc, cửa phòng vừa mở, tôi rất ngạc nhiên thấy một người rất trang trọng, ngồi bất động lặng yên, trên ghế bành sau bàn giấy. Đúng là tư thế của một hành giả đang thiền định. Ông vừa là kỹ sư kỹ thuật, vừa là  phó gián đốc điều hành một nhà máy gần 500 công nhân. Ông phải điều vận công việc qua nhiều công đoạn rất bận rộn vậy mà khi chúng tôi gặp ông trông như người vô sự. Quả nhiên ông kỹ sư này có trình độ đáng kể. Tôi hỏi:
       _ “Ông giám đốc tu pháp gì vậy?”
       _ “Tôi thực tập Thiền – Tịnh”.
        _ “Làm sao thực hành hai pháp một lượt được?”
      Ông cười, bảo: “ Tôi niệm câu: “Nam mô A Di Đà Phật” theo hơi thở vào, khí lực khi thổi ra theo chân không, tràn đầy pháp thân nguyện lực chư Phật đại thừc, đó là Tịnh. Khi vận hành chỉ quán hợp nhất trong pháp môn không tán loạn đó là Thiền”.
        _ “Kết quả có rõ ràng không?”, tôi nói.
        _ Tôi không nghi ngờ gì cả, vì vận tưởng qua vô tâm nhưng xúc thọ sanh diệt có thể thấy biết được nên tâm tự tịnh.
        Ông Huệ Hải trao đổi với ông kỹ sư bằng tiếng Pháp khoảng 10 phút, tôi thấy hai người đều hoan hỷ. Bà vợ của ông kỹ sư là một người có căn lành rất sâu, về sau tôi có khai kinh Pháp Hoa và Địa Tạng cho bà tụng tại nhà. Bà tinh tấn liên tục nhiều năm, có linh ứng và thần cảm hiện tiền. Mỗi đêm bà tụng Địa Tạng, có vô số người cõi âm đến nghe kinh mà được siêu thoát. Mỗi ngày bà trì tụng vài trăm biến chú Đại Bi, sắc diện có thần khí, mọi người tiếp cận với bà đều muốn phát tâm tu hành. Bà làm một ngôi chùa ở nơi tịnh vắng để thuận tiện tu tập một mình. Lúc bà lớn tuổi, thấy sức khỏe yếu kém, không tự phụng sự được ngôi Tam Bảo, bà dâng cúng ngôi chùa cho một vị sư. Những năm sau này tôi không gặp lại bà và ông kỹ sư nữa nhưng tôi tin thiện tâm của ông bà kỹ sư này không thay đổi  nhân và quả. Khi thực hành giáo lý của Phật thì hai đời hiện tại và tương lai đều hưởng được quả phúc lâu dài và giải thoát luân hồi sinh tử. Như vợ chồng ông Hùng, bà Vân mà trước đây tôi từng ở tại gia đình này mấy tháng.
      Sau khi rời nhà ông kỹ sư Hùng, tôi đến chùa Viên Giác và được thượng tọa Thích Giải Chương mời làm cố vấn cho chùa và Tô ký nhi viện Viên Giác. Tại chùa này, tôi gặp lại Viên Hiển ngày trước đã từng học một trường với tôi ở Lưỡng Xuyên. Viên Hiển nói tiếng Anh rất giỏi, thầy vẫn còn là tu sĩ, thầy làm thông dịch viên cho chùa để khuyến khích lính Mỹ bố thí hoặc “viện trợ không hoàn lại” cho chùa Viên Giác. Tôi thì không bỏ nghề cũ luôn ca hát Đại Bi Tâm Đà Ra Ni. Nhờ Bồ Tát gia hộ tôi lập một Phổ môn đoàn cho giới trẻ, có gần 200 nam nữ ghi tên vào danh sách. Mục đích của Phổ môn đoàn là tâm hướng về đức Bồ Tát Quán Thế Âm, hạnh bố thí cho chúng sinh, làm phước hạnh song tu cho Phật tử và chùa Viên Giác. Tôi là cố vấn giáo lý nên tôi chỉ biết xiển dương học giáo lý và khuyến khích hạnh tu Quán Thế Âm. Tuy nhiên trong một ngôi chùa mà từ đầu không hình thành nhất trí trong sinh hoạt nên tu và hoạt động xã hội trở nên lấn cấn, so le. Các thầy không hài hòa trong nội bộ được. Mỗi ngày từ việc trường sở (trường Bồ Đề) ký nhi, cầu siêu, cầu an v.v… đã quá bận rộn rồi. Chỉ có hai thời công phu, tịnh độ sáng tối thì không đủ làm tiêu trừ kiết sử được. Nội kết chưa thông -  ngoại tập lại tấn công vào. Tâm của chúng ta như bờ vực đang lỡ dần trước những luồng sóng nước thủy triều tàn phá. Loạn tâm và nóng đốt là xúc thọ luôn thôi thúc ta đi tìm vị ngọt. Từ đó đời sống người tu trở nên “mỏng đầu”, rỗng ruột không lâu sẽ ngã đổ như cây không mọc rễ. Tâm ý tôi từ trước đến nay luôn muốn thoát ly, tôi muốn đi ra dần khỏi những đám đông, khỏi những công việc, tôi cũng muốn tịnh hóa tư tưởng mình. Đô thành, phố thị, đám đông là nơi làm tôi không như nguyện được. Tôi nhớ cách đây ít lâu, ông Huệ Hải có tặng tôi một khoảnh đất và một ngôi chùa ngoài xa lộ. Nơi đó chưa có người ở nhiều khí hậu trong lành mát mẻ.
      Một sáng đẹp trời, tôi giã từ Viên Giác, giã từ các thầy trong hội đồng bất cộng, giã từ Hội hè, cúng kiến của vùng đông dân Tam Hiệp. Tôi ra ngoài ngoại ô, một bán tự chưa hình thành, một mảnh đất mà trước đây các xe cộ đang chạy hay đã dừng đều nằm lại nơi này một chỗ ( Trước đây chỗ này là một garage xe hơi). Chỗ này hồi đó chưa có dân ở nhiều, phía trên có một nhà thờ công giáo, trước và sau đều trống thoáng. Bên kia đường, đi vô vài trăm mét có một nghĩa trang liệt sĩ của chế độ cũ, cảnh trí yên tĩnh có phần thiên nhiên hoài cổ. Ở đây, tôi không có Đệ tử và Phật tử hộ trì. Tôi xuống chợ Biên Hòa đặt vẽ một bảng hiệu quảng cáo: “Tu sĩ triết gia Bạch Vân nhà tướng số huyền bí học”. Bảng vẽ một bàn tay và hình thiên văn học có những vì sao xa xăm, mờ nhạt trong dãi Ngân hà (bản  vẽ được phối hợp những hình đồ thiên văn trong Dịch kinh Tân Khảo của Nguyễn Mạnh Bảo mà tôi đã được đọc trước đây). Nhờ bảng quảng cáo đẹp, có vẻ huyền bí và triết học cao nên có nhiều nhà kinh doanh và trí thức đến xem rất đông, tôi có khối tiền để mua sách và mua đồ “chợ trời” ở Long Bình. Căn cứ vào sự thật mà nói thì tôi không phải là “thầy bói chuyên nghiệp” nhưng lúc đó tôi vẫn tiếp khách rất suông sẻ. Cũng không thiếu nhiều người khó tánh bắt chẹt tôi nhưng họ không khó dễ gì được vì trong bộ nhớ tôi lúc đó rất đa dạng, không phải chỉ có một thứ mà tôi sử dụng đa khoa như coi chỉ tay, tướng mặt, tuổi tác, hướng nhà, xuất hành, tang, hôn… tôi còn bói Mai hoa, Dịch lý… Lần đầu tiên, tôi tập hợp được những đồ lạc xoong, ve chai mà tôi đã táy máy gom lại được từ trước giờ. Trong đời hễ có kẻ bán thì có người mua. Hàng thì không có gì quý cả nhưng nhờ người lúc cần và khéo nói. Cái gì có bề mặt thì có bề trái, hãy nhìn mặt đặt tên, vì là tên đặt nên mình nói gì không ai chối cãi. 
        Ví dụ, tôi nói: “Ấn đường của anh có màu vàng sáng, mà Cung Thiên di lại Động, anh đi chuyến này sẽ thành công”.
        Nếu anh ta hỏi: “Thầy thấy tôi thành công nhờ việc gì?”
         Tôi nói: “Anh nhờ sự liên hệ trong giao tiếp mà được việc”
        Một bà có tướng không xoàng hỏi: “Ông chồng tôi ưa đi ngang về tắt thì làm sao?”
       Tôi nói: “Do bà phá tướng thì ông mới sanh tật”.
       Bà hỏi: “Vậy phải làm sao?”
       Tôi nói: “Bà dùng cách “ly - tướng” thì ông trở lại.
       Bà hỏi: “Là sao?”
        Tôi nói: “ Bà dịu dàng mà tránh né ông, rồi như “có việc” đi ra ngoài… ông sẽ sanh nghi và đâu lại vào đó.
       Đó không hẳn là tướng mà chính là tâm. Nhờ tôi bày đặt coi bói mà có người tới lui luôn. Không biết vì coi bói mà thất đức hay có nhiều người tới lui làm cho nơi đây có giá. Một hôm, ông bà chủ đất cùng hòa thượng Nhật Liên đến “đề nghị” với tôi là về chùa Văn Thánh (ở Hàng Xanh Sài Gòn), ở đó Hòa Thượng dành cho tôi một phòng rộng rãi, đầy đủ tiện nghi.
        Tôi hiểu ra là đất và chùa này cúng không có giấy tờ. Ông Huệ Hải là vị đức cao, giải thoát nên không nghĩ tới hậu quả này. Tôi cũng vốn là người Mây nên cứ mãi nói chuyện ở thượng tầng không khí mà không hiểu chuyện ở mặt đất. Người ta nói có sách mách có chứng còn mình thì nói chuyện siêu hình thì bây giờ nên “Hô biến” là vừa.

 

Ngôi Chòi 
           Trên Tảng Đá

                

Tôi có một người bạn cũng khá thân từ hồi còn học ở Vĩnh Bình, đó là thầy Minh Huệ. Minh Huệ lớn tuổi, có uy tín và những chạc hơn tôi. Thầy đang làm trụ trì tại Khuôn hội Phật giáo Phú An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Nhiều lần thầy rủ tôi về đó ở để giảng cho khuôn hội mà tôi chưa bao giờ có dịp đồng thuận và cơ hội như lúc này. Tôi quyết tâm bỏ lại đằng sau trăm thứ móc nối liên hệ với chùa chiền, đô thị như một lần năm xưa đã bỏ lại Bạch Vân Am ở đường Nguyễn Huệ Phú Nhuận Sài Gòn.
        Ngồi trên chuyến xe đò về Đà Lạt, tôi thấy mình như một thân trung ấm đã bỏ lại một kiếp đời và bây giờ sắp được tái sinh. Tôi biết mình đang bay là đà đến xứ Nữ vương nhưng tôi không về nơi hoàng triều cương thổ mà tôi sẽ chủ động đầu thai nơi có giáo lý của Phật Đà, nơi có tiếng Pháp âm, nơi những chòi lá được dựng lên vì những bậc chân tu, hiền giả, đó là Đại Ninh.
“Cầu Đại Ninh hữu tình hữu cảnh
Phú An nhiều một mảnh huỳnh y”
        Xe qua khỏi Phương Lâm rồi Định Quán, tôi thấy mình như trở thành đơn sơ về lý tưởng, trở thành thanh thản ở tinh thần. Tinh thần là tự thể dự báo một hướng đến cho tương lai nó cũng ngầm mang hy vọng và tiền nghiệp cho cuộc sống sắp tới. Trước đây đi Đà Lạt một lần, tôi cũng đã từng qua con đường này nhưng không thấy nó. Con đường tới như nghiệp phải đi qua người đương sự không biết sẽ, đang và đã. Xe đò của tôi đang ngồi đang lên đèo Bảo Lộc, đang tiến dần trong hy vọng là thực, đang biết mình sẽ tới Đại Ninh.
        Bảo Lộc màu xanh bao la của những đồi trà, hương trà,vị trà qua khách du hành tự chế tự uống ở chính mình. Hương trà bốc lên đi lên cùng từng vùng sương khói cao nguyên vi vu lành lạnh, đó là sự di dịch tâm hồn, là di động cùng sự di chuyển mau lẹ nhẹ nhàng và vượt qua Di Linh, Lan Hanh rồi dừng lại khi xe qua khỏi cầu Đại Ninh.
        Trên đầu dốc, khuôn hội Phú An đơn độc sừng sững như một người bạn lành xa quê lâu ngày giờ đang đứng đợi. Hai cách cửa chùa mở rộng như đôi mắt ở đằng sau cùng thuận chiều với đôi mắt của tượng Bồ Tát Quan Thế Âm màu trắng toát lộ thiên đằng trước đều một lượt nhìn xuống tận dưới đường để thấy rõ ràng không sót một người vừa bước xuống khi xe an toàn dừng lại. Trên đầu dốc một vị thầy quen thuộc, mẫu thân của thầy và một Phật tử đang đợi tôi. Phú An hồi đó chưa có nhiều người, tăng ni còn thưa thớt. Khi tôi đến chưa xây cất Hương Nghiên Tịnh Viện, những thất lầu của ni sư Hải Triều Âm, Hải Tuệ chưa hình thành, những nhà vườn đẹp đẽ của thầy Như Thông, Như Năng, bà cô Tám. Các thầy Tâm Thanh, Minh Bá chưa về, có Đại hòa thượng Thiền Tâm và sư bà Tịnh Nguyệt. Thầy Giác Minh, thầy Tâm Mãn là các vị dẫn đầu về xứ tịnh trụ này chăng. Ông bà Mười là đại thí chủ đầu tiên ở đây chăng? Tôi không được rõ lắm. Minh Huệ nói với tôi nơi này đất rộng, khí hậu mát mẻ lại gần Đà Lạt thầy trụ ở đây đi. Lúc đầu khuôn hội chưa có nhà bếp, cứ mỗi trưa, chiều tôi và thầy Minh Huệ phải đi xuống một đồi dốc phía sau qua mấy vùng cỏ dại đến tịnh thất của sư cô Phổ để dùng cơm. Cô Phổ là một người tốt bụng lại hay đãi đằng quý thầy. Các thầy ở Sài Gòn lên như Huệ Nghiêm, Ấn Quang đều có ghé lại nơi tịnh thất của cô và thường ăn cơm ở đó. Từ chùa khuôn hội Phú An qua đến thất của cô Phổ, ít nhất đường dài cũng gần hai cây số. Mội ngày tôi và Minh Huệ đi về bốn năm lần như thế đáng lẽ phải mỏi chân mà ngán sợ, vậy mà tâm trạng đó không bao giờ xảy ra. Ngược lại, cũng con đường đó từ khoảng giữa hai nơi, đến rồi về, người tôi luôn nhẹ tênh, những bước chân cùng những hoa rừng cỏ dại, đung đưa theo làn gió nhẹ nhàng, mát lịm như một cơn ru, chìm đắm mênh mông, như mộng như mơ. Tôi không hề thấy đường dài hay khoảng cách  có thể nói là sự phỉ lạc không có căn nguyên.
Giờ đây, tôi hồi ức muốn diễn đạt lại tâm trạng đó như những dòng tả ở trên thì thật là còn những khoảng cách khá xa. Những gì mà giờ đây tôi muốn nói, giống như một người uống một tách trà nguội chế từ hôm qua thưởng thức lại cái hương vị trà thơm tho tinh khiết ban đầu. Tôi tự hỏi vì đâu mà hồi đó mình có được một niềm vui miên man say đắm thênh thang an lạc như thế? Chắc chắn không phải từ một sở hữu gì, không do sự tu hành, không do tình cảm may mắn hay hạnh ngộ một cái gì, không phải nhìn ngắm cảnh quang. Một lần nữa, tôi xét lại tiến trình rời khỏi những nơi tôi đã ra đi, tâm trạng mất hút cái quá khứ, tôi chưa tính toán và hi vọng cái gì sắp tới. Hiện tại chưa có gì gợi hình, chưa có gì khởi sanh liên hệ mà cái bây giờ con người và cảnh trí thật sự an nhiên, thanh minh như là thiên nhiên, cây cỏ, trời mây. Tâm tôi vô tư “mở bày khoảng trống”. Chính khoảng trống mở bày này tràn đầy sự vật. Những chuyển động từ xúc thọ tế vi đã trở thành lạc phúc. 
Những tháng dài năm rộng đời người mở phơi thăm thẳm cuộc sống phí phạm tâm huyết và sinh lực vô bờ, ảo tưởng và khốn cùng nối đuôi bất tận. Ảo tưởng niềm vui như giọt nắng chiều tàn, hạnh phúc như thả mồi đớp bóng, ngay cả tướng trạng tu hành cũng chỉ là chập chờn trong mộng mị. Ngay cuộc sống còn tồn tại của tác giả tập Hồi ký, tiến trình chứng nghiệm trong thực tại này cũng muôn vàn cay đắng, tác giả đã từng trải qua những hoạn nạn phi thường, những tội tù, khổ nhục, đói khát, sỉ nhục, chửi bới, đánh đập, vu oan, phạm phải, khốn cùng… Tác giả đã hồi âm trong một cuốn sách về sau như một cuốn phim khổ nhục, như một bi kịch dị thường.
           Giờ đây ánh sáng đã bừng lên, niềm vui mở rộng mong cùng các bạn đón tia nắng ban mai. Một ngày mới đã về. Sức ấm áp sẽ phủ lên những ruộng đồng lầy lội, dù bãi rác hay phố phường, dù cánh rừng hay sa mạc, ánh sáng sẽ luôn là niềm vui, là hi vọng, là thực tại ngay từ đây và tại những trang sách này. Tôi ở lại Khuôn hội Phú An cùng thầy trụ trì hơn ba tháng. Một hôm có một Phật tử là thợ mộc, anh đến đóng đồ cho chùa ở Khuôn hội. Tôi nói với anh qua vài mẩu chuyện về điểm cốt trong tu hành cần thiết là tịnh tâm và tịnh cảnh. Anh bảo:
         _ “Tôi có một miếng đất mà không ai ở được, thầy chịu không tôi cho thầy”.
         Tôi hỏi: “Đất gì mà không ai ở được?”
        Anh nói: “Đó là một đồi đá sỏi không trồng được gì, không có sinh lợi được người ta làm sao ở, chỗ đó lại vắng vẻ không người… Cô độc lắm!”
       Tôi nói: “Anh dẫn tôi đi xem đi!”.
       Sau giờ làm việc trưa hôm đó, anh Phú dẫn tôi đi xem. Anh và tôi đi vào một khoảng sâu mà hồi đó nơi này còn giáp với rừng. Quả nhiên có một vùng đất toàn sỏi đá mà xung quanh không có một mạch nước nào. Anh Phú nói : “Đó, thầy coi đi!” rồi anh đi vòng vòng qua một miếng đất gần đó. Tôi đi tới một cục đá sát bên cuối dốc đứng tại ranh đất. Cục đá to gần bằng hai cái giường lớn nổi lên khỏi mặt đất chừng 5,6 tấc, bề đứng thì dựng sâu dựa vào đất, dài đến gần 4 mét. Gần sát đó có một cây gỗ cẩm lai to cành lá có tàng de ra thật mát. Tôi ngồi trên tảng đá một hồi lâu, tôi thấy rõ là mình rất yên tâm, trong lòng không có gì lo lắng, sợ hãi, chỗ này ở được.
        Có một cái gì đó không tự nghĩ tính, mà tự biết chắc rằng: Mình ở chỗ này. 
       Sau đó anh Phú trở lại hỏi: “Sao, Thầy chịu không?”
        - “Được, anh cho tôi chỗ này hả?”, tôi nói.
       - “Thầy có cần viết giấy không tôi viết cho?”
        Tôi nói: “Không cần, chừng nào tôi đi thì trả lại đất cho anh”.
          Anh hỏi: “ Chừng nào thầy cất thất?”
        - “Mai”.
          Anh nói: “Nhanh vậy à?”
         Tôi về Khuôn hội nói với thầy Minh Huệ là ngày mai làm thất tu trong đất của anh Phú, nhờ thầy vô cầu nguyện. Tôi xuống phía dưới nói với mấy sư trong tịnh xá, mai này tôi làm thất trên chỗ đất của anh Phú, nhờ mấy sư lên cầu nguyện. Có một số quý cô và bốn năm người Phật tử, nhất là ông cụ Ba Sô, ông rất hoan hỷ khiêng tượng dọn bàn để làm lễ.
          Trên khu đồi trống trải, tiếp giáp với rừng Đại Ninh một buổi sáng thật thanh tĩnh, trong lành, một cuộc lễ thật đơn giản nhưng sống động có đủ quý thầy, quý sư, tăng, ni, Phật tử… Thật sự cho đến lúc đó, tôi cũng không nghĩ là mình lấy gì để cất cốc. Tôi không có dự tính trước là mình lên Đại Ninh để cất cốc. Ngày hôm qua, tôi mới nhận đất của anh Phú, anh hỏi: “ Chừng nào cất cốc?”. Tôi nói: “Mai”. Anh nói: “Nhanh vậy à?”.
        - “Ghê thật!” anh Phú nghĩ là tôi đã chuẩn bị rồi. Vào thời đó nếu muốn làm một  tịnh thất, ít nhất phải có vài ba trăm ngàn, cất lớn còn đến cả triệu. Anh Phú không ngờ trong túi tôi không có đến mười ngàn bạc. Mặc dù ở thành phố, tôi có thể có nhiều tiền, nhất là khi tôi làm chiêm tinh gia. Nhưng trước lúc lên đây tôi đã gỡ bảng xuống mà bản tính tôi thì không biết dành dụm tiền bạc ngay những lúc có tiền. Khi lên đây tôi đi ăn cơm với thầy Minh Huệ ở nơi sư cô Phổ, tôi không nghĩ mình có hay không có tiền để làm gì. Bây giờ tôi biết làm gì đây? Khi thời kinh cầu nguyện gần xong thì có một ông người miền Tây buôn bán gỗ đi ngang qua đó, ông nghe tiếng tụng niệm liền ghé vô xem. Ông hỏi: “ Mấy thầy làm gì mà tụng kinh giữa rừng vậy?”
        Tôi nói: “Tôi tụng kinh cầu nguyện để cất cốc ở tu”.
        Ông liền móc túi lấy ra năm trăm đồng cúng cho tôi. Tôi liền có ý nghĩ: “Đây là tiền cất cốc”. 
        Cuộc lễ vừa xong mấy sư, thầy ra về, tôi còn ở lại đó và đi vòng ra phía ngoài đường mòn, tôi gặp hai ông người thượng, mấy ông này đeo vòng tai rất lớn, tay cầm xà gạt, vai mang gùi. Hai người thượng này trông rất “nguyên thủy”. Tôi đón hai người lại và hỏi: “Mấy ông biết làm nhà không?”
        Một ông hỏi lại: “Làm sao?”
        Tôi nói: “Làm nhà như mấy ông vậy”.
        Ông thượng lớn tuổi hơn bảo: “ Được, dễ lắm, làm một ngày thì xong”
        Tôi hỏi: “Làm bao nhiêu một ngày?”
        Ông bảo: “Hai trăm đồng”.
        Tôi nói: “Trả cho mỗi ông hai trăm rưỡi đồng một ngày”.
         Hồi đó cây và tranh lợp đều ở tại chỗ không phải đi chặt đâu xa. Một ông cắt tranh, một ông chặt bốn cái cây cao chừng hai mét, một cái cây cao hơn và một ôm cây nhỏ hơn để đóng vách và mái. Khi trồng bốn cái cột nhỏ và làm cây ngang xung quanh, hai ông ôm tranh đắp dày lên trên mái và cũng dựng ép sát tranh xung quanh làm vách. Họ không đánh, không giũ tranh gì cả. Hai người thượng làm “nhà” thật mau lẹ, khoảng bốn giờ chiều thì đã xong cái nhà.
 
Bản quyền thuộc về Trang Thơ Phù Vân Trang Tử
Email: phuvantrangtu@gmail.com
Website: http://phuvantrangtu.com
Nghiên cấm sao chép khi chưa được sự đồng ý của tác giả.
Thứ ba - 27/06/2017 11:08   Đã xem: 7
 Từ khóa: Trụ trì

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những bài mới hơn

Những bài cũ hơn

Facebook PhuVanTrangTu
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây